|
CHƯƠNG 1
THÁNH
GIUSE QUYẾT ĐỊNH RỜI XA HIỀN THÊ
Đức Maria cưu mang Con Thiên Chúa làm người đã tới tháng thứ năm khi đức
phu quân Giuse trinh khiết bắt đầu nhận thấy hoàn cảnh của Người. Một
hôm thánh Giuse thấy Đức Trinh Nữ từ trong phòng cầu nguyện bước ra,
ngài thấy nơi Người sự thay đổi rất khác thường, không thể nào giải
thích cho xuôi điều hiển nhiên trước mắt. Người của Chúa bị thương tận
đáy lòng, linh hồn ngài bị thương tổn vì không thể gạt bỏ sự thực hiển
nhiên. Lý do sự phiền sầu này là sự trinh khiết, tình yêu mãnh liệt tột
độ và tuyệt đối trung thành mà ngay từ thuở ban đầu thánh nhân đã trao
trọn vẹn cho hiền thê. Hơn nữa, vẻ duyên dáng diễm kiều và thánh thiện
của Đức Maria cột chặt linh hồn thánh Giuse với hiền thê. Vì Đức Maria
toàn hảo khôn ngoan thận trọng khiêm tốn nhu mì ít nói, nên ngoài sự lo
lắng băn khoăn phục vụ Đức Maria, thánh Giuse tự nhiên nuôi ước vọng
tình yêu của ngài được đáp ứng từ phía hiền thê. Điều này được Thiên
Chúa an bài, để do lòng ước ao trao đổi tình yêu, thánh Giuse có thể
được thúc đẩy phục vụ Đức Trinh Mẫu trung thành hơn.
Thánh Giuse không dính líu chút gì tới việc Đức Trinh Nữ mang thai, mà
những kết quả việc đó hiển nhiên ở trước mắt ngài, không thể chối cãi;
chắc chắn không thể tránh được sỉ nhục khi người ta biết việc này. Ý
nghĩ này làm cho thánh Giuse lo lắng buồn phiền. Ngài biết mức độ sự
thất sủng tủi hổ về phần mình và hiền thê yêu dấu trong hoàn cảnh mỗi
người. Nỗi ưu tư đặc biệt sâu sắc trong lòng thánh Giuse khiến ngài đau
đớn nhất là sợ phải nộp Đức Maria cho chức quyền để Người bị ném đá chết
(Lêvi 20:10), vì đây là tội ngoại tình bị kết án tử. Thánh Giuse chìm
trong lo âu đau đớn chẳng khác gì bị ngàn lưỡi gươm bén xuyên thấu, mà
không có lấy một chỗ nào để ẩn tránh khác hơn lòng tín nhiệm hoàn toàn
nơi hiền thê Maria. Cũng vì không dám hé răng tiết lộ sự đau trong lòng
với một ai, ngài thấy mình bị bao vây bởi những đau buồn chết người (Tv
17:5), cảm thấy trong chính ngài lời Sách Thánh: “Lòng ghen tương thì
khốn nạn hơn hỏa ngục” (Dc 8:6).
Giữa những lo lắng giày vò tâm trí này, thánh Giuse kêu cầu và đặt mình
trước nhan thánh Chúa: “Lạy Thiên Chúa Tối Cao, Chúa biết hết mọi ước
nguyện và những tiếng thở dài của con. Con thấy mình bị nhồi đập vì sự
cuồng bạo từ những cơn sóng buồn phiền (Tv 31:10) đã làm đau đớn trái
tim con. Con hoàn toàn tin cậy nơi hiền thê được Chúa ban cho con. Con
hoàn toàn tin cậy sự thánh thiện của Người. Nhưng các dấu hiệu của sự
thay đổi bất ngờ này nơi Người không ngừng dâng lên những hoài nghi đày
đọa đáng sợ, e rằng lòng tín nhiệm của con bị đặt lầm chỗ. Cho tới giờ
phút này con không thấy ở Người điều gì khả dĩ giải thích cho bất cứ
điểm hoài nghi nào nơi lòng khiêm tốn và đặc biệt nhân đức của Người,
đồng thời con không thể chối cãi được Maria đang mang thai. Chắc con
chết vì phiền sầu, trừ phi có mầu nhiệm gì che giấu mà con không đo
lường được. Lý trí cho rằng Người vô tội, trong khi đó tri giác lại kết
án Người.
Người không nói nguyên do việc thai nghén, trong khi con thấy việc đó
trước mắt. Con phải làm gì? Cả hai chúng con cùng thề hứa giữ Đức Trinh
Khiết vì vinh danh Chúa. Giả dụ có thể Người đã vi phạm lòng trung thành
đối với Chúa và với con, con sẽ bênh vực danh dự Chúa mà quên phần con
vì yêu mến Chúa. Nhưng làm sao Người có thể giữ được sự trinh trắng
thánh thiện nếu đã phạm đại trọng tội trong trường hợp này? Con hoãn lại
sự xét đoán của con. Vì không thể thấu hiểu được nguyên do những gì con
thấy, con trút hết linh hồn đau đớn của con trước nhan thánh Chúa (Tv
141:3). Lạy Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Jacob, xin Chúa nhận nước
mắt con làm hiến lễ đáng được chấp nhận. Nếu tội lỗi con xứng đáng bị
Chúa thịnh nộ, thì xin Chúa đại lượng nhân từ không khinh chê sự đau
buồn dữ dội của con. Con không tin Maria yêu dấu đã xúc phạm đến Chúa.
Dẫu vậy con lại càng không thể nào cho rằng có điều gì mầu nhiệm mà con,
với tư cách là phu quân lại không được cho biết. Xin Chúa thống trị trí
khôn và trái tim con bằng ánh sáng, để con có thể biết hầu chu toàn
thánh ý.”
Thánh Giuse kiên trì cầu nguyện thiết tha hơn nữa. Ngài đoán chừng phải
có điều gì mầu nhiệm trong việc thai nghén của Đức Maria mà giấu ngài,
nhưng vẫn không thể tìm được chút gì bảo đảm. Ý nghĩ này không mạnh hơn
để bào chữa cho Đức Maria so với những lý do dựa trên sự thánh thiện của
Người. Vì thế, ý nghĩ Đức Maria có thể là Mẹ Chúa Cứu Thế đã không đến
trong trí ngài. Đôi khi ngài xua đuổi những ức đoán đi, nhưng chúng trở
lại bằng những con số đông hơn với chứng cớ hiển nhiên hùng hồn hơn. Vì
thế, thánh Giuse bị nhồi đập giữa những cơn sóng hoài nghi dồn dập. Từ
sự đuối sức cùng cực, đôi khi thánh Giuse rơi vào tình trạng rối vò
không thể nào tìm được sự bình an cho trái tim, cũng không tìm được một
tiêu chuẩn nào để căn cứ vào đó để có thể lèo lái cuộc sống. Dẫu vậy sự
kiên trì chịu đựng dưới cái đọa đày này quá sức lớn lao, và là bằng
chứng hiển nhiên của đức thận trọng cao cả thánh thiện của ngài. Điều đó
làm cho ngài xứng đáng với hồng ân vô cùng cao cả duy nhất đang chờ đợi.
Đức Maria biết hết mọi diễn biến trong trái tim thánh Giuse, Người đi
vào trái tim thánh Giuse bằng ánh sáng thần linh. Mặc dầu tâm hồn Đức
Maria chan chứa yêu thương đau xót đối với những đau khổ của đức phu
quân, Người không nói một lời nào về vấn đề đó; mà chỉ tiếp tục phục vụ
thánh Giuse tận tình chu đáo. Người của Chúa không biểu lộ điều gì bề
ngoài khi nhìn Đức Maria, nhưng nỗi lo âu của ngài lớn lao hơn tâm trạng
như thế của tất cả mọi người đã từng sống trên đời. Việc thai nghén
không nặng nề đau đớn gì đối với Đức Maria; nhưng vì Người phục vụ thánh
Giuse tại bàn ăn hoặc việc nội trợ, hẳn không thể tránh để lộ tình trạng
cơ thể ngày càng rõ. Với tâm hồn nặng đau đớn, thánh Giuse để ý tới
những hành động cử chỉ của Đức Maria, ngài duyệt xét lại các ý kiến của
mình. Mặc dầu thánh thiện công chính, thánh Giuse tự cho phép mình, do
cuộc hôn nhân, được Đức Trinh Nữ kính trọng và phục vụ, được hưởng mọi
điều xứng với địa vị gia trưởng và phu quân nhưng khiêm tốn thận trọng.
Bao lâu còn chưa biết bí mật nơi hiền thê yêu dấu, thánh Giuse xét thấy
đúng rằng cần phải biểu lộ quyền hạn trong phạm vi những giới hạn chính
đáng, theo gương các thánh Tổ và Tiên Tri. Vì biết các thánh Tổ đòi hỏi
các và vợ phục tòng tuyệt đối, ngài không muốn bỏ không theo gương các
Tổ Phụ. Hẳn thánh Giuse đã hoàn toàn đúng trong việc này nếu Đức Maria
cũng chỉ như những phụ nữ khác. Tuy nhiên không một phụ nữ nào đã hoặc
sẽ sống, đã hoặc sẽ hết sức vâng lời, khiêm tốn tận tụy đối với chồng
như Đức Maria đã cư xử với thánh phu quân. Đức Maria phục vụ thánh Giuse
với lòng kính trọng ân cần. Mặc dầu biết các tư tưởng rối vò và nhận xét
của phu quân về sự thai nghén của mình, Đức Maria không bỏ sót một săn
sóc nào đối với ngài, Người cũng không cố giấu giếm hoặc biện giải tình
trạng của mình.
Vì đức khôn ngoan và khiêm tốn đã không cho phép Đức Maria nghĩ đến
mình, không thể tự mình làm sáng tỏ điều huyền nhiệm nơi Người. Mặc dầu
lòng trắc ẩn yêu thương đối với phu quân làm cho Đức Maria lo lắng phải
an ủi và làm cho ngài khuây khỏa, Người không làm điều đó bằng cách nói
rõ về mình hoặc che giấu việc thai nghén. Người phục vụ đức phu quân
bằng những biểu lộ tình yêu tận tụy hơn, ân cần hơn. Nhiều lần Đức Maria
quì gối phục vụ cơm nước cho thánh Giuse. Việc này an ủi thánh Giuse đôi
chút, nhưng cũng gây cho ngài sự phiền muộn mới. Vì do đó ngài chỉ nhìn
thấy những động lực của tình yêu và kính trọng được gia tăng mà vẫn chưa
biết chắc hiền thê của mình giả dối hoặc không. Đức Maria không ngừng
cầu nguyện cho thánh phu quân, xin Đấng Tối Cao thương nhìn đến an ủi
ngài; phần còn lại Người hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa.
Thánh Giuse không thể hoàn toàn giấu kín sự đau lòng dữ dội, thường tỏ
ra tư lự bơ phờ. Đôi khi quên lãng vì ưu phiền, ngài đã nói với hiền thê
thiên đàng bằng giọng hơi gay gắt, mà trước kia chưa bao giờ xảy ra. Đây
là ảnh hưởng tự nhiên của sự đau đớn nơi trái tim ngài, chứ không do cảm
giác tức giận hóa ra trả thù; vì ý nghĩ trả thù không bao giờ đến với
thánh Giuse. Dẫu vậy, Đức Nữ Vương không bao giờ thiếu vẻ ngọt ngào, mà
chỉ gia tăng nỗ lực làm nhẹ bớt tâm tư của thánh phu quân. Đức Trinh Nữ
phục dịch ở bàn ăn, kéo ghế mời thánh Giuse ngồi, dâng thức ăn, nước
uống. Nhưng nếu sau khi Đức Maria chu toàn tất cả những việc phục dịch
này, thánh Giuse nài Đức Maria ngồi xuống, ngài lại càng tin hơn rằng
Người đang mang thai.
Cho dù sự đau buồn của Đức Trinh Nữ vượt mọi giới hạn, nhưng khả năng
của tâm hồn đại lượng nhân từ của Người còn cao cả hơn nhiều, nhờ đó có
thể che giấu sự buồn phiền hoàn toàn hơn, và dành hết khả năng vào việc
săn sóc yêu thương thánh phu quân Giuse. Tâm tư buồn phiền của Người chỉ
làm tăng thêm việc tận tụy lo lắng cho sức khỏe và hạnh phúc của thánh
Giuse. Vả lại, vì nguyên tắc hành động bất khả vi phạm của Đức Maria là
phải thi hành mọi sự cách cẩn trọng hoàn hảo, Người tiếp tục không nói
đến mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể vì không nhận được chỉ dạy nào về việc
tiết lộ. Mặc dầu chỉ một mình Người có thể giải tỏa đức phu quân bằng
một lời giải thích, Người giữ lại điều đó vì kính trọng và trung thành
với bí tích của Vua trên trời (Tôbia 13:7). Đức Maria nói với thánh
Giuse về sức khỏe của ngài, vì ngài bị suy nhược trầm trọng. Đức Trinh
Nữ khuyên ngài nghỉ ngơi dưỡng sức, vì cần phải bồi dưỡng sức khỏe đã bị
hao mòn để có thể phục vụ Chúa lâu dài.
Đức Maria buồn rầu vô hạn vì biết thánh Giuse quyết định rời bỏ Người,
tự mình vắng mặt. Người nói với các thiên thần: “Hỡi các thiên thần đặc
sứ của Đức Vua Tối Cao, Đấng nâng quí vị lên bậc diễm phúc, và do Ơn
Quan Phòng nhân từ của Chúa, tháp tùng bảo vệ tôi, xin các thiên thần,
quí bạn hữu của tôi, trình lên trước thánh nhan Chúa nhân từ những đau
buồn của phu quân Giuse. Tôi nhờ các thiên thần khẩn khoản xin Thiên
Chúa đoái nhìn và với tư cách Người Cha đích thực, xin Chúa an ủi Giuse.
Và cả các thiên thần nữa, hằng hết lòng tận trung vâng lời Chúa, cũng
xin nghe lời cầu nguyện của tôi, nhân danh Chúa, Đấng hằng hữu, mà tôi
dâng cho Ngài thân xác loài người trong lòng tôi, tôi khẩn khoản xin các
thiên thần đừng chần chờ, hãy giúp cho phu quân tôi bớt đau đớn nơi trái
tim ngài, xua đuổi khỏi tâm trí ngài quyết định rời bỏ tôi.” Các thiên
thần đã lập tức vâng lời, trút vào trái tim thánh Giuse nhiều tư tưởng
tốt lành, lại thuyết phục ngài rằng hiền thê Maria của ngài thánh thiện
hoàn toàn nhất, ngài không thể tin có điều gì sai trái nơi Người. Các
thiên thần cũng nhắc thánh Giuse nhớ rằng Thiên Chúa quá sức cao siêu,
không ai lường được các việc Chúa làm, các phán xét của Chúa bí ẩn vô
cùng (Tv 33:19), Thiên Chúa luôn trung thành đối với những ai trông cậy
Ngài, không bao giờ khinh miệt hoặc bỏ rơi những người đó trong mọi khổ
não của họ.
Nhờ những soi dẫn thánh thiện này và nhiều chỉ dạy khác, tinh thần bối
rối của thánh Giuse được tương đối lắng dịu, mặc dầu ngài không biết các
điều đó từ đâu tới. Nhưng vì nguyên do nỗi lo âu không được dứt đi,
chẳng mấy chốc ngài lại bị các tư tưởng đó giày vò. Vì không tìm được
điều gì bảo đảm làm cho trái tim nguôi ngoai, ý định rút lui bỏ hiền thê
lại xâm chiếm tâm trí ngài. Đức Maria biết điều này và kết luận là cần
phải phá tan điều nguy hiểm này nên đã khẩn khoản hơn xin cách cứu chữa
và cầu cứu Con cực thánh. Mẹ Maria cầu xin: “Lạy Chúa và Thiên Chúa linh
hồn con, với điều Chúa cho phép, mặc dầu con chỉ là bụi tro (Stk 8:27),
con sẽ nói trước thánh nhan Chúa và giãi bày những thở dài con không thể
nào giấu Chúa được (Tv 37:19). Con không được bất cẩn trong việc giúp đỡ
phu quân con đã nhận từ tay Chúa. Con thấy Giuse bị những khổ tâm áp đảo
mà Chúa đã gởi tới cho người, con không thể nào nhẫn tâm để người trong
hoàn cảnh đó. Nếu con được đẹp lòng Chúa, con tha thiết xin Chúa, lạy
Thiên Chúa hằng hữu, vì tình yêu mà Chúa đến ngự trong lòng nữ tì của
Chúa để cứu độ nhân loại, xin vui lòng an ủi tôi tớ Giuse của Chúa và
sắp đặt cho nguời giúp đỡ con trong việc chu toàn các công trình vĩ đại
của Chúa. Con, nữ tì của Chúa, rất cần có một đấng phu quân bảo vệ và
giám hộ. Lạy Chúa và Thiên Chúa, xin đừng để Giuse thi hành quyết định
rút lui khỏi đời con.”
Đấng Tối Cao đáp lời Đức Maria: “Người Yêu vô cùng dấu ái của Ta, ngay
bây giờ Ta sẽ đến thăm và an ủi Giuse tôi tớ Ta. Sau khi Ta đã tỏ hiện
cho Giuse, qua thiên thần, mầu nhiệm mà tới nay Giuse không biết, Người
có thể nói cho Giuse biết tất cả mọi điều Ta đã làm cho Người, không cần
phải giữ kín từ nay trở đi về các vấn đề này. Ta sẽ đổ tràn đầy Thần
Linh Ta trên Giuse, cho Giuse đủ khả năng chu toàn phần mình trong các
mầu nhiệm này, giúp đỡ Người trong các mầu nhiệm đó và trong tất cả mọi
việc sẽ xảy ra.” Nhờ lời Thiên Chúa hứa, Đức Maria được khuây khỏa an ủi
và dâng lời tạ ân nồng nàn.
Trong khi đó thánh Giuse lo lắng suy nghĩ về cách hành động sao cho
chính đáng. Ngài đã mang nỗi thống khổ này ròng rã hai tháng rồi, và bây
giờ, bị sức nặng lớn lao của nỗi khổ tâm chế ngự, ngài tự nhủ: “Tôi
không thể tìm được cách nào tốt đẹp để thoát khỏi những khó khăn này hơn
là tự tôi vắng mặt. Tôi thú nhận rằng hiền thê của tôi toàn hảo, không
tỏ ra điều gì sai lỗi, trái lại Người hiển nhiên là một đấng thánh;
nhưng Người mang thai mà tôi không thể đo lường được mầu nhiệm. Tôi
không muốn làm tổn thương danh giá thánh thiện của Người bằng việc làm
cho Người chịu hình phạt theo luật, đồng thời tôi không thể đứng bên và
chứng kiến những hậu quả việc Người có thai. Bây giờ tôi rời xa Người,
trao phó chính tôi cho sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng quản trị tôi.”
Thánh Giuse quyết định ra đi đêm đó. Để chuẩn bị hành trình, ngài gói
ghém vài y trang và các thứ lặt vặt. Ngài cũng đã đòi tiền công các dịch
vụ đã làm, và đi ngủ với ý định ra đi lúc nửa đêm. Theo thói quen dâng
mọi ý định lên Thiên Chúa, khi đã tới quyết định này, ngài nói với Thiên
Chúa: “Lạy Thiên Chúa tối cao hằng hữu của tổ phụ Abraham, Isaac và
Jacob của chúng con, Chúa thực sự là nơi nương náu duy nhất cho kẻ nghèo
khó đau khổ. Mọi nỗi buồn phiền khổ tâm của con đều quá rõ ràng đối với
lòng nhân hậu Chúa. Lạy Chúa, Chúa cũng biết, mặc dầu con không xứng
đáng, con vô tội vì những gì gây ra sự đau buồn của con, hơn nữa Chúa
cũng biết sự bất hạnh ô nhục và nguy hiểm đem lại cho trường hợp hiền
thê của con. Con không tin Người ngoại tình, vì con chỉ thấy ở Người
nhân đức và hoàn toàn cao cả; nhưng rõ ràng con thấy Người đang mang
thai. Con không biết do ai hoặc cách nào việc đó xảy ra, vì thế con
không thể nào duy trì được bình an tâm hồn. Để chọn cái ít xấu nhất, con
sẽ rút lui khỏi hiền thê của con, tìm một nơi mà không ai biết con và
hoàn toàn ký thác thân con cho sự Quan Phòng của Chúa, con sẽ sống trọn
đời ở sa mạc. Lạy Chúa và Thiên Chúa hằng hữu, xin đừng bỏ con, vì con
chỉ ước nguyện làm vinh danh và phụng sự Chúa mà thôi.”
Thánh Giuse phủ phục dưới đất cầu nguyện và hứa lên đền thờ Jerusalem
dâng một phần số tiền nhỏ mọn ngài dành cho cuộc hành trình, để xin
Thiên Chúa gìn giữ hiền thê Maria của ngài khỏi mọi tai họa, giải thoát
Người khỏi mọi bất hạnh. Sau khi cầu nguyện, thánh Giuse ngả mình ngủ
một lát, định âm thầm ra đi lúc nửa đêm.
Nhờ lời Thiên Chúa hứa, Đức Maria được an tâm. Thiên Chúa Toàn Năng cho
Đức Maria thấy mọi việc thánh Giuse chuẩn bị thi hành. Khi nghe lời
thánh Giuse khấn hứa vì sự an toàn hạnh phúc của Người, nhìn thấy gói
nhỏ và phần lương thực nghèo nàn ngài chuẩn bị cho cuộc hành trình, Đức
Trinh Nữ lòng tràn đầy thương xót yêu mến và lại cầu xin cho ngài, tạ ân
và chúc tụng Chúa vì ơn quan phòng hướng dẫn mọi hành động của nhân loại
vượt trên khả năng hiểu biết của loài người. Thiên Chúa cao cả sắp đặt
các biến cố như thế để cả Đức Maria và thánh Giuse được đưa tới đỉnh xa
nhất của nỗi thống khổ bề trong nhưng đầy công phúc.
(Trong tiến trình này, lý do sau cùng luôn luôn là chính thánh ý Chúa,
công chính, thánh thiện và trọn hảo. Tuy nhiên một vài lý do khác có thể
được dùng để giải thích:
Lý do thứ nhất là thánh Giuse công chính khôn ngoan dè dặt cao độ, được
tràn đầy ân sủng thiên đàng, có quan niệm hết sức cao về Đức Maria. Đức
Maria, Đấng đầy ơn phúc, không cần phải làm cho thánh Giuse tin bằng
những chứng cớ hùng hồn, đoan chắc với ngài về địa vị của Người và các
mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể; vì nơi những trái tim ngay lành thì ơn soi
sáng từ thiên đàng dễ dàng chiếu soi.
Lý do thứ hai là sự bối rối của thánh Giuse khởi đầu bằng tri giác, khi
thấy hiền thê của mình mang thai. Đây chỉ là sự báo thù, vì các tri
giác, đã bị lừa dối hoặc bị làm cho nghi ngờ, có thể là bị làm cho u mê
hoặc bị ngăn chặn vì thiếu thị kiến siêu nhiên.
Lý do thứ ba có thể là thánh Giuse, mặc dầu không mắc tội gì, chịu ảnh
hưởng sự đau khổ và các tri giác của ngài, có thể nói, đã bị làm chết
đi, bị làm cho bất khả đối với trực giác bén nhạy và việc tiếp xúc của
thiên thần. Vì thế thiệt là thích hợp, thiên thần thông báo sứ điệp này
cho ngài khi các tri giác đã bị trì trệ ngưng hoạt động. Vì thế khi
thánh nhân khôi phục được việc sử dụng đầy đủ các tri giác, tự mình tẩy
sạch và sắp đặt bằng nhiều hành động nhân đức để đón nhận hoạt động của
Ơn Chúa Thánh Thần, mà trước kia đã bị những bối rối làm cho hoàn toàn
gián đoạn.)
Thánh Giuse thức dậy ý thức hoàn toàn rõ rệt rằng hiền thê của ngài đích
thực là Mẹ Thiên Chúa (Mt 1:18-25). Hết sức vui mừng vì ơn hiểu biết cao
cả này và niềm hạnh phúc khôn tả, thánh Giuse xúc động đau buồn vì những
gì ngài đã làm. Với lòng khiêm tốn kính trọng và vui vẻ, thánh Giuse quì
sấp mình xuống đất nồng nàn tạ ân Chúa. Ngài tạ ơn Chúa đã cho biết mầu
nhiệm này và đã chọn ngài làm phu quân của Đức Maria, Đấng mà Thiên Chúa
đã chọn làm Mẹ, mặc dù ngài không đáng là nô lệ của Người. Khi tuyên
xưng, nhìn nhận và thi hành các việc nhân đức này, tinh thần thánh Giuse
được bình yên, sẵn sàng đón nhận những hồng ân mới của Chúa Thánh Thần.
Những hoài nghi lo âu trong vài tháng vừa qua đã xây dựng trong ngài nền
móng kiên cố về Đức Khiêm Tốn cần thiết để “người được ký thác những mầu
nhiệm cao cả vô cùng của Thiên Chúa”.
Hồi tưởng những sự việc trải qua là bài học ngài nhớ suốt đời. Thánh
Giuse kết tội chỉ một mình ngài về tất cả mọi việc đã xảy ra và thốt
lên: “Ôi hiền thê trên trời của tôi, Chim Bồ Câu hiền lành nhất của tôi,
được Đấng Tối Cao chọn làm nơi Ngài ngự và là Mẹ Ngài, làm sao tên nô lệ
bất xứng này dám hoài nghi lòng chung thủy của Người? Làm sao tấm thân
tro bụi này dám để cho Người hầu hạ? Người là Nữ Vương trời đất, là Bà
Chúa vũ trụ. Làm sao tôi còn chưa hôn đất nơi gót ngọc Người chạm vào?
Tại sao tôi lại chưa lo lắng quì mà hầu hạ Người? Làm sao tôi dám ngước
mắt lên trước sự hiện diện của Người và dám là bạn đồng hành với Người,
hoặc mở miệng nói với Người? Lạy Chúa và Thiên Chúa của con, xin ban cho
con hồng ân và sức mạnh để xin Người tha thứ; xin Người rủ lòng thương
xót, không khinh miệt tên đầy tớ đau buồn vì lỗi của nó."
Thánh Giuse lúc này rời khỏi căn phòng nhỏ của ngài, quá sức sung sướng
thấy mình thay đổi tình cảm từ lúc ngả lưng ngủ. Đức Maria luôn luôn
giam mình trong phòng, thánh Giuse không muốn khuấy động sự chiêm niệm
ngọt ngào của Người. Trong khi chờ đợi, “người của Thiên Chúa” mở cái
gói nhỏ đã chuẩn bị, vừa mở vừa nhỏ lệ mà cảm giác hoàn toàn khác với
lúc sửa soạn. Mắt đẫm hoan lệ, ngài tỏ lòng tôn kính đối với hiền thê
thiên đàng yêu dấu bằng cách sắp xếp các căn phòng gọn gàng, lau chùi
nền nhà đã được gót ngọc Đức Maria chạm tới. Thánh Giuse cũng làm nhiều
việc lặt vặt khác trước kia vốn thường để cho Đức Maria làm. Thánh Giuse
quyết định thay đổi hoàn toàn mối liên hệ đối với Đức Trinh Nữ, tự giành
cho mình vị thế người nô bộc và dành cho Người địa vị Bà Chủ. Đức Maria
thấy hết mọi điều xảy đến cho thánh Giuse, không một tư tưởng hoặc một
cử chỉ nào của ngài thoát khỏi sự chú ý của Người. Khi tới giờ, thánh
Giuse tới phòng Đức Maria, Người đang âu yếm chờ ngài.
Thánh Giuse, lúc này biết rõ mọi chuyện, đã chờ đợi cho tới khi hiền thê
của ngài chiêm niệm xong. Tới giờ mà ngài biết, ngài mở cửa căn phòng
khiêm tốn nơi Mẹ của Đức Vua thiên quốc ở. Vừa mới bước chân vào, thánh
Giuse lập tức quì sụp xuống, nói bằng giọng kính cẩn sùng bái: “Thưa bà
chủ và hiền thê của tôi, Hiền Mẫu đích thực của Ngôi Lời Hằng Sống, tôi
đây là nô lệ quì phục nơi chân của lòng nhân từ độ lượng của Người, vì
Chúa và Thiên Chúa, Đấng (mà) Người cưu mang trong dạ trinh khiết, xin
Người tha thứ cho sự táo bạo liều lĩnh của tôi. Tôi biết chắc không một
ý nghĩ nào của tôi giấu được sự khôn ngoan minh mẫn trên trời của Người.
Tôi ý thức đã lầm lỗi hết sức lớn lao do lòng kiêu căng quyết định rời
bỏ Người, sự vô lễ của tôi trong việc cư xử với Người cho tới lúc này
như là kẻ bề dưới, thay vì tôi phải phục vụ Người là Mẹ Chúa và Thiên
Chúa của tôi. Nhưng Người cũng hiểu tôi đã phạm những lỗi đó vì không
biết, vì tôi không được biết các mầu nhiệm của Vua thiên đàng và địa vị
cao cả của Người, mặc dầu tôi tôn kính nơi Người những hồng ân khác của
Đấng Tối Cao. Thưa bà chủ, xin đừng khiển trách sự ngu đần của một thụ
tạo thấp hèn như tôi, kẻ mà lúc này được chỉ dạy tường tận hơn. Tôi xin
dâng hiến trái tim và toàn thể sinh mạng tôi để phục vụ giúp đỡ Người.
Tôi sẽ không đứng dậy, trước khi chắc chắn được Người xót thương. Tôi
cũng sẽ không đứng lên cho tới khi đã được Người tha thứ, được hảo ý của
Người và được Người chúc lành.”
Nghe những lời khiêm nhượng của thánh Giuse, Đức Maria đã trải qua nhiều
cảm nghĩ khác nhau. Với niềm vui yêu mến trong Chúa, Người thấy thánh
Giuse được ký thác các mầu nhiệm Thiên Chúa cách khôn ngoan như thế nào,
vì ngài nhìn nhận và tôn kính các mầu nhiệm với đức tin vững chắc và
lòng khiêm tốn sâu thẳm. Đức Trinh Nữ hơi lúng túng vì thánh Giuse quyết
định từ nay trở đi đối xử với Người cách kính trọng và tự hạ ám chỉ
trong lời ngài. Đức Maria khiêm tốn e rằng do việc đổi mới này Người mất
cơ hội vâng phục và hầu hạ đức phu quân. Như một người bất chợt thấy
mình lâm nguy bị cướp mất đồ tế nhuyễn hoặc kho tàng quí giá, Đức Maria
buồn rầu vì tư tưởng là thánh Giuse không còn coi Người là bề dưới phải
vâng phục ngài trong mọi sự, vì lúc này ngài nhận ra nơi Người địa vị Mẹ
Thiên Chúa.
Đức Trinh Nữ nâng phu quân thánh thiện đứng dậy và, mặc dầu thánh Giuse
cố cản, Người quì phục xuống chân ngài, nói: “Thưa chủ nhân và phu quân
của thiếp, chính thiếp phải xin phu quân tha thứ vì những đau buồn đắng
cay thiếp đã gây ra; vì thế thiếp quì đây xin phu quân tha thứ, cũng xin
phu quân quên đi những lo lắng, vì Thiên Chúa Tối Cao đã vui lòng đoái
nhìn đến những ước vọng và đau buồn của thiếp.”
Đức Maria an ủi phu quân là việc chính đáng. Vì thế, không phải để bào
chữa cho mình, Đức Trinh Nữ nói thêm: “Thiếp hằng ước ao, nhưng không
thể tự mình cho phu quân biết một điều nào về bí tích nhiệm mầu ẩn náu
trong mình thiếp do quyền phép Đấng Toàn Năng. Là nữ tì Thiên Chúa,
thiếp có bổn phận phải chờ sự tỏ hiện thánh ý toàn hảo của Chúa. Không
phải thiếp không kính trọng phu quân là chủ nhân của thiếp, mà thiếp đã
nín thinh. Thiếp đã và sẽ luôn luôn là nữ tì trung tín, tha thiết đáp
ứng những ước vọng thánh thiện và lòng yêu mến của phu quân. Từ đáy trái
tim thiếp và nhân danh Chúa, Đấng thiếp cưu mang trong dạ, xin phu quân
đừng thay đổi cách xưng hô nói chuyện, tiếp xúc. Thiên Chúa không làm
cho thiếp trở thành Mẹ Ngài để được phục vụ và ra lệnh ở đời này, nhưng
để là tôi tớ tất cả, là nô lệ tuân phục ý phu quân trong mọi sự. Thưa
chủ nhân của thiếp, đây là bổn phận thiếp, nếu không như vậy, hẳn thiếp
sẽ sống cuộc sống không vui vẻ mà tràn đầy đau buồn. Điều chính đáng là
nếu phu quân cho thiếp cơ hội chu toàn bổn phận đó, vì Đấng Tối Cao đã
sắp đặt như thế. Chúa đã ban cho thiếp sự bảo vệ giúp đỡ tận tình và
sống an toàn dưới bóng sự ân cần lo lắng của phu quân, nhờ phu quân trợ
giúp dưỡng nuôi Con của lòng thiếp, Đấng là Thiên Chúa và Chúa của chúng
ta.” Thánh Giuse nâng Đức Trinh Nữ lên để bàn với Người về mọi điều cần
thiết đối với mầu nhiệm này.
Được ơn soi sáng đặc biệt và muôn vàn ơn thánh, được hoàn toàn đổi mới
trong tinh thần yêu mến sốt sắng, thánh Giuse nói: “Thưa Quí Nương,
Người được chúc phúc hơn mọi phụ nữ, hạnh phúc và được sủng ái trước
muôn dân và muôn thế hệ. Xin cho Đấng tạo thành trời đất được ca tụng
đời đời. Từ ngai tòa cao sang, Chúa đã đoái nhìn đến Người và chọn làm
nơi Chúa ngự, chỉ nơi một mình Người mà thôi các lời hứa xưa với các
thánh Tổ Phụ và Tiên Tri đã được hoàn tất. Xin muôn thế hệ chúc tụng
Thiên Chúa. Chúa không tỏ lộ danh Chúa nơi một ai khác như Ngài đã thực
hiện nơi lòng khiêm tốn của Người. Phần tôi, kẻ hèn hạ nhất trong các
sinh linh, trong tình thương chiếu cố, Chúa đã chọn tôi làm nô bộc của
Người.” Trong những lời chúc tụng và cầu xin này, thánh Giuse được Chúa
Thánh Thần soi sáng cùng cách như thánh Elisabeth, khi bà đáp lời Đức
Maria chào. Ơn soi sáng và cảm hứng mà thánh phu quân nhận được đã hết
sức thích hợp với địa vị và chức vụ của ngài. Nghe lời thánh Giuse, Đức
Maria đã đáp lại bằng những lời trong kinh Magnificat, như trong cuộc
viếng thăm thánh Elisabeth, và thêm nhiều ca khúc khác nữa. Đức Maria
được bốc cháy trong ơn ngất trí, được cất lên khỏi mặt đất trong bầu ánh
sáng bao phủ làm cho Người biến hình trong vinh quang.
Với thị kiến thiên đàng này, thánh Giuse ngỡ ngàng hoan hỉ khôn tả. Chưa
bao giờ ngài thấy hiền thê tột đỉnh phước đức của ngài trong sự cao sang
vinh quang lạ lùng tuyệt vời như thế. Lúc này thánh Giuse nhìn Đức Maria
với sự hiểu biết đầy đủ rõ ràng vì toàn thể sự toàn vẹn trinh khiết của
Đức Maria và mầu nhiệm về địa vị của Người đã tỏ hiện cho ngài tường
tận. Thánh Giuse thấy và nhận ra nơi lòng dạ trinh khiết Đức Maria nhân
tính của Thiên Nhi và sự kết hợp hai bản tính của Ngôi Lời. Với lòng
khiêm tốn tôn kính thẳm sâu, thánh Giuse thờ lạy Ngôi Lời, nhận Ngài là
Chúa Cứu Chuộc, tự hiến thân mình cho Thiên Chúa Cao Sang. Chúa đoái
nhìn thánh Giuse cách nhân từ âu yếm đặc biệt khác với mọi người, vì
Chúa chấp nhận ngài là Dưỡng Phụ và ban cho ngài tước hiệu đó.
Thánh Giuse đã không thẹn mà hết sức vui mừng vì niềm vui bất ngờ của
việc tiết lộ mầu nhiệm đích thực liên quan đến hiền thê Maria. Trong
trường hợp thứ nhất, thánh Giuse chứng tỏ sự thánh thiện của mình. Trong
trường hợp thứ hai, ngài cho thấy mình xứng đáng với những đặc ân đó.
Nếu Thiên Chúa không mở rộng trái tim thánh Giuse, hẳn ngài đã không thể
nào tiếp nhận hoặc có thể sống để hưởng niềm vui trong tâm hồn. Trong
mọi sự, thánh Giuse đã được canh tân và nâng lên cao, để có thể cư xử
cách xứng đáng với Đức Maria, Đấng là Mẹ Thiên Chúa và là hiền thê của
ngài; bảo vệ mầu nhiệm Nhập Thể và săn sóc Ngôi Lời làm người. Để thánh
Giuse có thể xứng đáng hơn và nhìn nhận nhiều hơn nữa nhiệm vụ giúp đỡ
Đức Maria, ngài được biết mọi đặc ân và thánh sủng ngài được ban cho đều
nhờ hiền thê của ngài: những ơn trước ngày thành hôn, được tuyển chọn
làm phu quân Đức Trinh Mẫu, và những ơn về sau.
Thánh Giuse ý thức Đức Maria cao cả đã hành động khôn ngoan cẩn thận thế
nào đối với ngài, không phải chỉ trong việc phục dịch với lòng vâng phục
hiền hoà khiêm nhượng sâu thẳm, mà cả trong việc an ủi khi đau khổ, xin
cho ngài được ân sủng trợ giúp của Chúa Thánh Thần, trấn an và làm nhẹ
bớt nỗi buồn phiền, chuẩn bị ngài lãnh nhận ảnh hưởng Thần Linh Thiên
Chúa. Đức Maria đã là công cụ cho việc thánh hóa thánh Gioan Tẩy Giả và
mẹ ngài, Người cũng là máng chuyên ân sủng dồi dào gấp bội cho thánh
Giuse. Thánh Giuse, tốt phước và trung thành nhất, hiểu và tận lực tận
sức tạ ân vì mọi điều này.
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, mục đích việc Mẹ tiết lộ cho con quá nhiều bí tích và mầu
nhiệm, con đã viết về cả hai thứ đó và nhiều thứ khác nhưng không có khả
năng làm sáng tỏ, là để con dùng Cuộc Đời Mẹ như tấm gương sáng cho
nguyên tắc bất khả vi phạm cho các hành động của con. Tất cả những điều
đó cần được ghi khắc trong trái tim con, Mẹ gợi lại trong trí khôn con
các giáo huấn về cuộc sống đời đời, như thế Mẹ làm đúng bổn phận là Thầy
của con. Con phải sẵn sàng tuân theo, chu toàn mọi lệnh truyền như một
người học trò thiện chí và chuyên cần. Hãy lấy sự lo âu và cẩn thận của
thánh phu quân Giuse của Mẹ, việc ngài phục tùng các lời chỉ dạy thánh
thiêng, kính trọng ơn thiên đàng soi sáng, làm gương cho con. Chỉ vì
trái tim thánh Giuse đã được sắp đặt và chuẩn bị kỹ càng để thực thi
thánh ý Chúa, ngài đã được thay đổi và tái tạo hoàn toàn nhờ muôn vàn ân
sủng dành cho nhiệm vụ được Đấng Tối Cao ủy thác. Vì thế, hãy để cho ý
thức các lỗi lầm của con phục vụ con như nguyên cớ để qui phục với tất
cả lòng khiêm nhượng đối với mọi việc Thiên Chúa làm, chứ không phải là
cớ để rút lui không thi hành các điều Chúa muốn.
Mẹ muốn nhân dịp này cho con biết lời quở trách nghiêm khắc và sự phẫn
nộ của Đấng Tối Cao đối với loài người, để, nhờ ơn Chúa, con có thể so
sánh cách cư xử của nhân loại với lòng khiêm tốn hiền lành Mẹ đã dành
cho thánh Giuse. Lý do lời quở trách này, Chúa và Mẹ phải đưa ra đối với
loài nguời, là vì nhân loại tàn ác vô nhân đạo trong việc ngoan cố đối
xử với nhau quá thiếu sót lòng khiêm nhượng và yêu thương. Trong trường
hợp này người ta phạm ba tội, những tội này làm buồn lòng Thiên Chúa rất
nhiều, làm cho Thiên Chúa Toàn Năng và Mẹ giữ lại rất nhiều lòng thương
xót.
Tội thứ nhất là người ta biết mình cùng là con một Cha trên trời (Is.
64:8) mà cư xử với nhau như thù địch. Mọi người đều là công trình của
Cha trên trời tạo dựng từ cùng một bản chất; được nuôi dưỡng và giữ cho
sống cách bao dung do sự quan phòng của Chúa; được nuôi ăn cùng một bàn
các Mầu Nhiệm Thánh, nhất là bằng chính Mình Máu Chúa. Thế mà người ta
quên và khinh miệt mọi ơn ích này; tập trung mọi chú ý vào những việc
trần thế tầm thường; tự khích động vô cớ, điên cuồng giận dữ; tạo ra bất
hòa cãi cọ; nuôi lòng phỉ báng và ngôn từ hằn học, đôi khi lên tới độ
trả thù vô nhân đạo ác độc nhất hoặc thù hằn không đội trời chung.
Thứ hai là, khi vì yếu đuối và thiếu hãm mình, bị ma quỉ cám dỗ, người
ta thường sa ngã xích mích bất hòa, người ta không lập tức từ bỏ lỗi
lầm, cũng không cố gắng làm hoà lại, như phải thi hành giữa anh em với
nhau trước mặt vị quan toà công chính. Vì thế người ta chối bỏ Thiên
Chúa là Cha nhân từ, bắt buộc Thiên Chúa trở thành quan toà nghiêm khắc
đối với tội lỗi họ; không có tội nào thúc đẩy Chúa mau chóng thi hành
phép công thẳng bằng tội thù hằn và khinh ghét.
Tội thứ ba là khi một người anh em đến làm hoà, thì người kể như bị xúc
phạm không thèm chấp nhận người đến làm hòa, nhưng đòi hỏi sự đền bù lớn
lao hơn số lượng, mà người đó biết rằng có thể được Thiên Chúa chấp nhận
khi chính người đó dâng để đền bù phép công thẳng của Chúa. Tất cả mọi
người đều ước ao Thiên Chúa, Đấng bị xúc phạm nặng nề vô cùng, nhận và
tha thứ bất cứ khi nào họ đến với Chúa bằng lòng khiêm tốn thống hối.
Trái lại, người ta chỉ là bụi tro, đòi trả thù anh em, không bằng lòng
với phần đền bù mà Đấng Tối Cao sẵn sàng chấp nhận đối với tội lỗi của
họ.
Trong tất cả mọi tội lỗi mà con cái Giáo Hội phạm, trước thánh nhan
Thiên Chúa không có tội nào kinh khủng bằng tội nuôi hận thù. Con sẽ
hiểu điều này nhờ ánh sáng thánh sủng và trong uy lực Lề Luật Chúa
truyền dạy người ta phải tha thứ cho anh em mình, cho dù chúng đã xúc
phạm tới bảy mươi lần bảy lần. Nếu người anh em phạm lỗi nhiều lần trong
một ngày, ngay khi người phạm lỗi nói ân hận về điều đó, Thiên Chúa dạy
chúng ta tha thứ bấy nhiêu lần mà không kể, không đếm số lần. Những
người nào không sẵn sàng tha thứ, Thiên Chúa đe dọa hình phạt nặng nề
nhất vì điều ô nhục chúng gây ra. Điều này có thể được gom lại từ những
lời đe dọa chính Thiên Chúa phán: Khốn thay cho kẻ nào là nguyên cớ cho
tội lỗi sinh ra và nó gây ra tội lỗi. Thà rằng nó rơi xuống đáy biển với
cối đá buộc vào cổ còn hơn. Điều này được Chúa nói ra để cho thấy sự
nguy hiểm của tội thù hằn, khinh ghét, và sự khó lòng được tha thứ khỏi
tội đó, đến mức được so sánh với một người rơi xuống biển với cối đá cột
vào cổ. Lời này cũng cho thấy hình phạt tội này là nơi tối tăm đau khổ
đời đời (Mt 8:9). Vì thế, giới răn của Con Cực Thánh Mẹ là lời khuyên
tốt lành cho các tín hữu, thà rằng họ để mắt bị móc đi, tay bị chặt đi,
còn hơn để cho mình mắc phải trọng tội làm hư các trẻ nhỏ.
CHƯƠNG 2
CÁCH CƯ
XỬ HÀNG NGÀY CỦA ĐỨC MARIA VÀ THÁNH PHU QUÂN GIUSE
Thánh Giuse, sau khi biết mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, đã có cảm nghĩ
hết sức cao về Đức Maria. Thánh Giuse, vốn luôn thánh thiện toàn vẹn,
nay được đổi thành con người mới. Ngài quyết định đối xử với Đức Maria
theo nguyên tắc mới với lòng tôn kính lớn lao hơn. Theo thánh Giuse,
việc này phù hợp với sự khôn ngoan cần phải có đối với hiền thê tuyệt
vời của ngài. Do ơn Chúa, thánh Giuse nhận thức rõ ràng ngài chỉ là nô
bộc và Đức Maria là Nữ Vương trời đất. Để thỏa lòng ao ước tôn kính Đức
Maria theo địa vị Mẹ Thiên Chúa, mỗi khi thánh Giuse đi qua trước mặt
hoặc nói chuyện với Người, ngài hết sức kính cẩn. Ngài không để Đức
Maria phục vụ hầu hạ, hoặc phải làm bất cứ công việc khiêm nhượng nào
như quét dọn nhà cửa, rửa chén bát. Vị phu quân tột đỉnh hạnh phúc ước
muốn chính mình làm những việc này, để không làm giảm địa vị cao cả của
Đức Maria.
Mẹ Maria xin thánh Giuse đừng quì trước mặt Người, vì mặc dù việc phụng
thờ này phải dành cho Chúa, nhưng bao lâu Chúa còn ẩn dật đối mọi người,
bề ngoài không thể phân biệt rõ ràng giữa Ngôi Vị của Chúa và ngôi vị
Mẹ. Thánh Giuse thuận ý đáp ứng nguyện vọng của Đức Maria. Dẫu vậy một
đôi lần, khi Đức Maria không nhìn, thánh Giuse tiếp tục thi hành việc
thờ lạy này đối với Chúa nơi cung lòng Đức Maria, và cũng cả đối với
Đấng là Mẹ Thiên Chúa, định rằng theo cách đó tôn kính cả hai thích nghi
với sự tuyệt vời của mỗi Vị. Thánh Giuse cho rằng không chính đáng nếu
để Đức Nữ Vương cao cả phải làm các việc trong nhà, nên ngài tìm cách
làm xong trước mọi việc đó. Đức Maria cũng nhiệt thành muốn làm các việc
nội trợ trước thánh Giuse. Thánh Giuse làm hết các việc này trong khi
Đức Maria chiêm niệm cầu nguyện, không để cho Người thực hiện ước nguyện
phục vụ ngài và chu toàn việc nội trợ, mà Người coi là thuộc bổn phận nữ
nhi của mình. Đức Maria buồn vì việc này. Người hướng vào Chúa với những
lời kêu than khiêm nhượng, xin Chúa truyền cho thánh Giuse không được
cản trở Người thực hành đức khiêm nhượng. Đức khiêm tốn rất mạnh thế, có
hiệu lực kỳ diệu trước ngai tòa Chúa, không lời cầu nguyện nào bị coi là
nhỏ mọn nếu được dâng lên với lòng khiêm tốn. Chúa truyền cho thiên thần
bản mệnh thánh Giuse nói cho ngài biết: “Đừng làm trở ngại các ước
nguyện khiêm tốn của Đức Maria, Đấng siêu việt trên hết mọi thụ tạo trên
trời dưới đất. Bề ngoài hãy để cho Người phục vụ Giuse và bề trong đối
xử với Người theo lòng kính trọng cao cả nhất, thờ lạy Ngôi Lời Nhập Thể
mọi nơi mọi lúc. Đây là thánh ý Chúa, cũng là mỹ ý của Đức Hiền Mẫu:
phục vụ người khác chứ không phải được người khác phục vụ, để dạy cho
trần gian bài học về cuộc đời và sự tuyệt vời của lòng khiêm tốn. Giuse
có thể giúp đỡ Người trong một số công việc, nhưng luôn tôn kính Chúa
muôn loài nơi lòng dạ Người.”
Được lệnh truyền của Đấng Tối Cao chỉ dạy, thánh Giuse nhường cho Công
Chúa thiên đàng thực hành đức khiêm nhượng. Như thế cả hai vị có thể
dâng lên Thiên Chúa ý nguyện của mình. Do việc thực hành đức khiêm
nhượng thẳm sâu và vâng lời đức phu quân, Đức Maria chu toàn không sót
một điểm nhỏ nhặt nhất của sự trọn lành. Vâng lời Đấng Toàn Năng, nhưng
thánh Giuse đôi khi bối rối khi ngài thấy mình được hầu hạ phục vụ bởi
Đấng mà ngài đã nhìn nhận là Bà Chúa của ngài và cả vũ trụ, là Mẹ Thiên
Chúa, Đấng tạo dựng ngài.
Trong những chương tiếp, tác giả sẽ tận dụng khả năng hạn hẹp của mình
kể lại một vài ngôn từ và đối thoại thiên đàng giữa Đức Maria và thánh
Giuse. Ai có thể kể được những hiệu lực thành hình trong trái tim dịu
hiền nhiệt thành của thánh Giuse khi ý thức rằng ngài được chọn làm phu
quân của Đức Maria, Đấng là Mẹ đích thực Đấng tạo dựng ngài, được Người
phục vụ như nữ tì khiêm tốn nhất; đồng thời ngài thấy Đức Maria được
nâng lên trong sự thánh thiện, địa vị cao cả vượt trên các thiên thần
sốt mến Seraphim thượng đẳng, chỉ dưới một mình Thiên Chúa? Nếu Thiên
Chúa đã ban dư đầy ân sủng cho nhà Obededom vì Hòm Bia hình bóng thời
Cựu Ước đã ở trong nhà đó một vài tháng (1 Par. 13:4), lẽ nào Chúa lại
không ban thánh sủng cao quí dồi dào tột độ cho thánh Giuse, người mà
Chúa đã ký thác Hòm Bia đích thực và chính Đấng Ban Luật Lệ ngự trong
lòng dạ Người? Sự tốt phước và hạnh phúc của thánh Giuse khôn sánh!
Không phải ngài chỉ có trong nhà mình Hòm Bia Sống đích thực của Tân
Ước, mà Bàn Thờ, Của Lễ, và Đền Thờ, tất cả đều trao cho ngài trách
nhiệm. Cũng vì ngài, người nô bộc trung thành, đã săn sóc những tột đỉnh
quí báu này cách tận tụy đáng công (Mt 24:45), thánh Giuse được chính
Thiên Chúa đặt trong nhà Ngài để cung cấp mọi sự cần thiết đúng lúc như
một người quản lý trung thành nhất (Os. 14:20). Muôn thế hệ và muôn dân
cần nhận biết và chúc tụng ngài, ca tụng công nghiệp của ngài, vì Đấng
Tối Cao đã không ưu ái một người nào khác như thế.
Ngôi nhà khiêm tốn nhưng hồng phúc của Thánh Gia có ba phòng, các phòng
này choán gần hết diện tích ngôi nhà, nơi cư ngụ riêng cho hai đấng phu
thê. Các ngài không có nô bộc cũng không có nữ tì. Một phòng ngủ của
thánh Giuse, một phòng chứa đồ đạc và dụng cụ thợ mộc. Đức Maria sử dụng
phòng thứ ba, phòng này cũng là phòng ngủ của Người. Trong phòng của Đức
Maria, có chiếc giường (trường kỷ) được chính thánh Giuse đóng. Đức
Maria và thánh Giuse giữ cách xếp đặt này từ ngày đến nhà này. Trước kia
thánh Giuse ít khi tới gặp Đức Maria; vì trong khi Người cầu nguyện
chiêm niệm, ngài bận làm việc, trừ phi việc gì đó hết sức cần phải hỏi ý
Người. Từ khi biết địa vị cao cả của Đức Maria và hạnh phúc cao cả của
mình, thánh Giuse lo lắng nhiều hơn về phúc lợi của Đức Hiền Mẫu. Để
canh tân niềm vui trong trái tim ngài, thánh Giuse thường tới nơi tĩnh
tâm của Đức Nữ Vương thiên đàng, thăm hỏi và nhận những điều Người chỉ
bảo. Ngài đến gặp Đức Maria luôn luôn với lòng khiêm tốn tôn kính e dè,
trước khi nói với Đức Maria, ngài cẩn thận coi xem Người đang làm gì.
Nhiều lần thánh Giuse thấy Đức Maria ngất trí được nâng lên khỏi đất,
huy hoàng trong ánh sáng rực rỡ, hoặc đang nói chuyện với các thiên
thần, những lần khác thánh Giuse thấy Đức Maria phủ phục trên đất theo
hình thánh giá nói chuyện với Thiên Chúa. Đức phu quân tối ư hạnh phúc
được chia sẻ các đặc ân này. Bất cứ khi nào ngài thấy Đức Trinh Mẫu
trong những trường hợp này, ngài không làm gì hơn là nhìn ngắm Người với
lòng tôn kính sâu thẳm. Nhờ đó đôi khi ngài được nghe một vài khúc nhạc
thiên quốc du dương tuyệt vời, và hưởng hương thơm ngát kỳ diệu.
Chỉ có Đức Maria và thánh Giuse sinh sống trong nhà này. Công Chúa thiên
đàng rất ít khi ra khỏi nhà, trừ trường hợp khẩn thiết để phụng thờ
Thiên Chúa hoặc phục vụ giúp đỡ người khác. Bất cứ khi nào có điều gì
cần thiết, Người hỏi một bà lối xóm tốt phước, bà này đã từng phục vụ
thánh Giuse khi Đức Maria ở lại nhà thánh Zacharia. Người phụ nữ này
được Đức Maria đền đáp rất trọng hậu: không phải chỉ một mình bà trở nên
thánh thiện trọn lành, mà toàn thể mọi người trong nhà bà đều được chúc
phúc nhờ sự giúp đỡ của Đức Maria. Bà này được Đức Maria viếng thăm
trong một số lần bà bị bệnh và cả gia đình bà được làm cho phong phú ân
sủng thiên đàng.
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, trong trường dạy đức khiêm nhượng, mà cả cuộc đời Mẹ là bài
học cho con, Mẹ muốn con cẩn trọng chuyên cần. Đức khiêm tốn phải là
điều chính yếu con lo lắng trước nhất. Nếu con muốn vui hưởng sự âu yếm
ngọt ngào của Chúa, con phải cương quyết giành cho được lòng Chúa ưu ái,
chiếm hữu kho tàng ánh sáng vốn bị giấu kín đối với những kẻ kiêu căng
(Mt 11:25). Vì nếu không có nền tảng vững chắc của đức khiêm tốn, các
kho tàng đó không được ký thác cho bất cứ ai. Tất cả hoài bão của con
phải là tự hạ trong việc tự đánh giá con và tư tưởng của con, để trong
các hành động bên ngoài con có thể thực sự phô bày đức khiêm tốn bề
trong. Đây phải là đối tượng cho sự xấu hổ, là sức mạnh thúc đẩy để con
và tất cả các linh hồn có Chúa là Cha và là Phu Quân thấy rằng tính tự
phụ kiêu căng của sự khôn ngoan trần thế, nơi kẻ sùng mộ nó, mạnh sức
hơn lòng khiêm tốn và biết mình đích thực nơi con cái sự sáng. Con hãy
nhìn xem lòng khao khát ngưỡng vọng, việc học hỏi và lo lắng không mệt
mỏi của những người cao vọng. Họ phấn đấu để được thế gian kính trọng,
tranh đấu không bao giờ nghỉ, mặc dầu hết sức phù vân vô giá trị. Họ cư
xử bề ngoài theo những ý niệm giả trá. Họ khoác lấy cho mình thứ mà
không phải là họ, cố gắng qua mưu mô lừa dối này để giành được của cải,
mà họ không xứng đáng mặc dầu những thứ đó chỉ thuộc về trần thế. Vì
vậy, nguyên do sự bối rối xấu hổ đối với người lành là con cái ma quỉ
đáp ứng các thúc giục của sự lừa dối mãnh liệt hơn những người được
tuyển chọn đáp ứng các thúc đẩy của chân lý. Số người còn ở trần gian lo
lắng tận lực phụng sự Thiên Chúa và Đấng Tạo Hóa thì quá ít so với con
số những người phụng sự phù vân giả trá, vì kẻ được gọi thì nhiều mà
người được chọn thì ít (Mt 20: 16).
CHƯƠNG 3
HÀNH TRÌNH ĐI BETHLEHEM
Thánh ý Đấng
Quan Phòng ấn định Con Một Thiên Chúa Cha sinh ra tại Bethlehem (Mica
5:1), đã được các Thánh Tổ và Tiên Tri loan báo từ rất nhiều thế hệ
trước (Jer. 10:9). Những quyết định do thánh ý tuyệt đối của Thiên Chúa
bất khả ngộ, không thứ gì có thể chống lại (Est 13:9), trời đất không
qua đi trước khi các điều đó được hoàn tất (Mt 24:35). Việc hoàn tất
quyết định bất di dịch này được bảo đảm bằng chiếu chỉ hoàng đế Caesar
Augustus ra lệnh kiểm tra dân số toàn đế quốc Lamã (Lc 2:1). Đế quốc
Lamã gồm phần lớn các miền đất đã được biết đến trên thế giới thời đó,
vì thế họ tự xưng là bá chủ cả thế giới. Mục đích việc kiểm tra dân số
này là để mọi cư dân nhìn nhận và nộp thuế cho hoàng đế. Mọi người phải
trở về nguyên quán ghi danh kiểm tra. Thánh Giuse nghe biết chiếu chỉ
này khi ngài đi lo công việc. Lòng rụng rời lo âu, thánh Giuse trở về
nói cho Đức Maria biết. Đức Trinh Nữ nói: “Xin chủ nhân và phu quân đừng
lo lắng gì về lệnh vua trần thế, mọi việc xảy đến cho chúng ta đều do
Chúa là Vua trời đất an bài; Đấng Quan Phòng sẽ phụ giúp, chỉ dẫn chúng
ta trong mọi việc (Gv 22:28). Cứ phó thác cho Chúa, chúng ta sẽ không bị
thất vọng.”
Được ký thác mọi mầu nhiệm của Con cực thánh, Đức Maria biết nội dung và
việc hoàn thành các lời tiên tri: Con Một Thiên Chúa Cha và của Đức
Trinh Nữ phải được sinh ra tại Bethlehem, như “người xa lạ,” như “kẻ vô
danh.” Nhưng Đức Maria không nói gì về huyền nhiệm này cho thánh Giuse
biết vì không được Thiên Chúa ủy thác. Đức Maria đã giữ kín tất cả mọi
điều không được lệnh tiết lộ, mặc dầu Người ước ao an ủi phu quân Giuse.
Đức Maria hoàn toàn phó thác cho thánh Giuse điều khiển sắp xếp mà không
hành động như những người tự cho mình là giỏi giang, như lời Đấng Khôn
Ngoan cảnh giác chúng ta (Cn 3:7). Đức Trinh Mẫu và thánh Giuse bàn thảo
về cuộc hành trình. Việc thai nghén của Đức Maria đã trọng tháng và ngày
sinh hạ đã gần kề. Thánh Giuse nói: “Thưa Nữ Vương trời đất và Bà Chủ
của tôi, nếu Người không nhận được lệnh gì khác từ Đấng Toàn Năng, có lẽ
tôi phải đi một mình. Nhưng, mặc dầu chiếu chỉ này chỉ nói đến các gia
trưởng mà thôi, tôi không dám ra đi mà không có ai giúp đỡ Người. Tôi
cũng không thể sống nếu vắng Người. Tôi cũng không thể nào có được lấy
một phút an lòng nếu xa cách Người. Trái tim tôi không thể nào có được
dẫu chỉ một chút thư thái nếu không nhìn thấy Người.”
Đức Maria và thánh Giuse quyết định ngày Thánh Gia lên đường. Thánh
Giuse đi khắp thị trấn Nazareth cố gắng tìm một con lừa đỡ chân Đức
Maria. Không dễ gì tìm được một con lừa vào lúc đó vì quá nhiều người đi
khắp nơi để chu toàn nhiệm vụ theo chiếu chỉ nhà vua. Sau nhiều lo lắng
tìm kiếm, thánh Giuse tìm được con lừa nhỏ ốm yếu. Nếu chúng ta có thể
gọi những con vật như thế là tốt phước, con lừa nhỏ ốm yếu đó tốt phước
nhất trong các con vật không có lý tính; không những vì nó được đặc
quyền chở Đức Nữ Vương muôn loài và Con cực thánh của lòng Người, Vua
trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa (Is. 1:13); mà còn vì con lừa
đó đã dâng lên Đấng Tạo Thành việc thờ lạy mà loài người từ chối dâng
lên Ngài. Đức Maria và thánh Giuse chuẩn bị hành trang và thực phẩm cho
cuộc hành trình năm ngày. Hành trang lần này của hai Vị Lữ Khách thiên
đàng cũng như trong chuyến đi lần trước tới nhà ông Zacharia thăm viếng
bà Elisabeth. Bánh, trái cây và vài con cá là những thứ thông thường
cung cấp dinh dưỡng được mang theo. Đức Trinh Nữ đem theo khăn tã cần
thiết cho việc Chúa Cứu Thế giáng sinh. Người muốn sắp đặt mọi thứ theo
đúng thánh ý khôn lường của Thiên Chúa, chuẩn bị cho các biến cố Người
biết phải xảy ra. Đức Maria và thánh Giuse giao nhà nhờ người lối xóm
trông coi.
Đức Maria và thánh Giuse đã từ Nazareth đi Bethlehem, khó nghèo khiêm
tốn trước mặt người đời. Nhưng Đức Mẹ và thánh Giuse không đi một mình,
các ngài đem theo Kho Tàng Thiên Quốc là chính Thiên Chúa, vì thế được
cả triều thần thiên đàng tôn kính. Mọi vật vô hồn nhận biết Hòm Bia
Thánh sống động đích thực (Jos 3:16) mau lẹ hơn nước sông Jordan nhận
biết Hòm Bia hình bóng, khi nước sông này mở lối cho Hòm Bia thánh và
các người tháp tùng đi qua sông. Muôn vàn thiên thần được Thiên Chúa chỉ
định phục vụ Đức Nữ Vương suốt hành trình. Thêm vào với đoàn hộ vệ này,
nhiều thiên thần khác từ thiên đàng là sứ giả Thiên Chúa Cha hằng hữu
đến với Con Một Chúa Cha làm người trong lòng Đức Maria; các thiên thần
là sứ giả đưa thông điệp của Chúa Con và Đức Hiền Mẫu dâng lên Thiên
Chúa Cha.
Tuy nhiên, cùng với các đặc ân và hân hoan này, Chúa Cứu Thế cũng chịu
một số vất vả bất tiện mà Đức Hiền Mẫu rất thánh phải chịu trên đường.
Sự tụ họp đông đảo người ta ở các quán trọ, do chiếu chỉ hoàng đế tạo
ra, là điều hết sức khó chịu cho Đức Trinh Mẫu và thánh phu quân Giuse.
Vì sự khó nghèo ẩn dật, các ngài bị đối đãi hững hờ, coi thường. Thế
gian xét đoán, tỏ hảo ý theo bề ngoài, theo ảnh hưởng cá nhân. Đức Maria
và thánh Giuse phải nghe đi nghe lại những lời sỉ nhục thậm tệ tại những
quán trọ các ngài ghé lại sau cuộc hành trình dài mỏi mệt. Tại một số
nơi các ngài bị từ chối không cho vào vì nghèo khó. Nhiều lần người ta
để cho Đức Nữ Vương trời đất ở xó góc nào đó nơi hành lang. Tại nhiều
nơi khác Người bị đối xử tệ hơn thế. Mẹ Maria và thánh Giuse phải dừng
chân ở những nơi còn khiêm nhượng hơn nữa. Nhưng tại bất cứ nơi nào Đức
Trinh Mẫu dừng chân, cho dù nơi đó bị coi là hết sức bần tiện, các thiên
thần thiết lập cấm thành chung quanh Đức Vua và Đức Nữ Vương. Thánh
Giuse thấy Đức Maria được bảo vệ cẩn thận như thế đã yên tâm nghỉ ngơi,
mau mắn chìm vào giấc ngủ sau hành trình vất vả. Trong khi đó Đức Maria
tiếp tục nói chuyện với các thiên thần.
Được giúp đỡ nhiều cách kỳ lạ như thế, các Vị Lữ Khách của chúng ta tới
thị trấn Bethlehem lúc bốn giờ chiều ngày chót của hành trình năm ngày.
Lúc đó là tiết đông chí, mặt trời đã lặn, màn đêm xuống. Đức Maria và
thánh Giuse tới thị trấn, đi qua nhiều đường phố tìm một quán trọ hoặc
chỗ trú qua đêm. Các Ngài gõ cửa những gia đình quen thuộc và thân nhân
họ hàng; nhưng không được một nơi nào nhận cho tá túc, ở nhiều nơi các
Ngài còn bị đón tiếp bằng những lời sỉ nhục tàn nhẫn. Đức Maria theo
thánh phu quân qua các đám đông, đi hết nhà này đến nhà khác, hết cửa
này qua cửa kia. Người biết trái tim và nhà của loài người đều đóng chặt
đối với các ngài, nhưng lòng chai dạ đá của dân thành khiến Đức Maria
đau lòng hơn việc các Ngài không tìm được nơi trú qua đêm. Đức Maria và
thánh Giuse lang thang qua các đường phố, khi đi ngang nơi khai sổ nhân
danh, các ngài đã ghé vào khai tên và nạp thuế theo đúng chiếu chỉ để
khỏi phải trở lại lần nữa, rồi lại tiếp tục tới những nhà khác tìm kiếm
chỗ trọ. Các thiên thần kinh ngạc trước những mầu nhiệm cao cả của Đấng
Tối Cao, đức nhẫn nhục hiền lành của Đức Trinh Mẫu, và lòng chai đá
không tình cảm của loài người. Đồng thời các ngài chúc tụng những công
việc và mầu nhiệm của Đấng Toàn Năng, vì từ ngày đó trở đi Thiên Chúa
bắt đầu tôn vinh đức khó nghèo khiêm tốn giữa loài người.
Lúc chín giờ đêm, thánh Giuse, lòng đau như cắt, trở lại nói với Đức
Maria: “Thưa Bà Chủ hiền dịu của tôi, trái tim tôi vỡ ra vì buồn phiền
vì không thể nào tìm được chỗ trú xứng đáng cho Người như tôi ao ước.
Tôi không thể nào tìm được cho Người dù bất cứ chỗ che mưa nắng nào,
hoặc một nơi nghỉ ngơi, một thứ mà hiếm khi hoặc không bao giờ từ chối
đối với những người nghèo nàn bần tiện nhất trần gian. Không thể nào
hoài nghi, Thiên Chúa che giấu mầu nhiệm gì đây, vì trong trường hợp như
thế này để cho trái tim nhân loại quá sức tàn ác chai đá đến nỗi từ chối
không cho chúng ta một chỗ nghỉ đêm. Thưa hiền thê, tôi nhớ phía ngoài
thành có một cái hang dùng làm chỗ che mưa nắng cho mục đồng và bầy
chiên của họ. Chúng ta hãy tìm cái hang đó; có lẽ bỏ trống, chúng ta hy
vọng được thiên đàng giúp đỡ, vì chúng ta không nhận gì nơi người trần
thế.” Đức Trinh Nữ nói: “Thưa phu quân và chủ nhân của thiếp, xin đừng
để cho trái tim hiền hòa nhất mực của người đau khổ vì những ước ao mãnh
liệt mà tình yêu Thiên Chúa thúc đẩy nơi người không chu toàn được. Vì
thiếp cưu mang Thiên Chúa trong lòng, xin phu quân cùng thiếp tạ ân Chúa
đã sắp đặt các biến cố theo cách này. Nơi phu quân nói đó sẽ là chỗ hài
lòng nhất đối với thiếp. Xin hãy để cho những giọt lệ đau buồn của phu
quân trở thành hoan lệ. Chúng ta hãy yêu mến ấp ủ sự khó nghèo là kho
tàng quí giá khôn lường của Con chí thánh của thiếp. Chúa từ thiên đàng
đến trần gian để tìm đức thanh bần, như thế chúng ta hãy dành cho Chúa
cơ hội thực hành đức khó nghèo trong niềm vui linh hồn chúng ta. Nhất
định thiếp không thể nào hoan hỉ hơn nếu phu quân tìm được nơi đó. Chúng
ta hoan hỉ đi bất cứ nơi nào Chúa dẫn chúng ta tới.” Các thiên thần hộ
vệ Thánh Gia, soi đường. Khi tới cổng thành các ngài thấy cái hang bỏ
trống không ai ở. Đức Maria và thánh Giuse tạ ơn Chúa vì đặc ân này.
LỜI MẸ MARIA
Con yêu quí của Mẹ, nếu con có trái tim hiền lành ngoan ngoãn, thì các
mầu nhiệm, mà con hiểu và viết ra, sẽ khơi lên trong lòng con những cảm
giác ngọt ngào của tình yêu cảm mến đối với Đấng là Tác Giả các mầu
nhiệm vĩ đại đó. Mẹ muốn con luôn nhớ các mầu nhiệm này trong trí khôn,
từ nay trở đi với lòng quí mến cao cả ôm ấp việc bị người đời khinh bỉ
thờ ơ. Con yêu dấu nhất của Mẹ, con hãy nói Mẹ nghe, nếu đổi việc bị
người đời hững hờ và thóa mạ để được Thiên Chúa đoái nhìn với cặp mắt
hiền dịu nhất, tại sao con không mua thứ quí giá vô cùng bằng giá quá
rẻ? Thế gian có thể cho con điều gì, cho dù nó quí trọng và ca tụng con
nhất? Không phải mọi ân huệ trần thế chỉ là hư ảo và lừa dối sao (Tv
4:3)? Không phải tất cả chỉ là ảo ảnh mau qua bồng bềnh và vuột khỏi tay
những kẻ vội vã chạy theo nó sao? Vì thế, nếu con có mọi thứ ở đời này
là của con, nhưng con từ bỏ, coi khinh nó không có giá trị gì thì đó là
hành động lớn lao biết chừng nào? Hãy nghĩ xem con phải trả ít chừng nào
trong việc từ bỏ mọi sự để đổi lấy tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu của
Mẹ và lòng yêu thương của các thiên thần. Nếu thế gian không hững hờ với
con đủ như con muốn, con hãy thi hành phần riêng con tự ý khinh chê nó,
để giữ con tự do không bị cản trở trong việc hoàn toàn hiệp thông và vui
hưởng Thiên Chúa Tối Cao trong chan hòa yêu thương hoan lạc nhất.
Con Cực Thánh Mẹ là Người Yêu trung thành nhất của các linh hồn, Ngài đã
đặt Mẹ làm Thầy dạy, là gương sáng sống động về lòng yêu mến đức khiêm
nhượng, thực sự khinh chê phù vân và kiêu căng trần thế. Chúa sắp đặt
như thế vì vinh quang Chúa mà cũng vì Mẹ. Mẹ, là Nữ Tì và Mẹ Chúa, phải
bị để cho không có chỗ trú ẩn, bị loài người xua đuổi, để từ đó về sau
các linh hồn yêu thương của Chúa có thể được khuyên sẵn sàng khước từ
việc người đời chào đón, để Chúa, bằng một tình yêu tuyệt vời, phải đến
ở với họ. Chúa cũng tìm kiếm cảnh thiếu thốn thanh bần, không phải vì
Chúa cần đến những thứ đó để đưa việc thực hành các nhân đức lên tới
đỉnh trọn lành, nhưng để dạy loài người con đường ngắn chắc chắn nhất
đạt tới đỉnh yêu thương thanh tịnh và kết hợp với Thiên Chúa.
Con yêu dấu nhất của Mẹ, con biết rõ rằng nhờ ơn Chúa con đã liên tiếp
được chỉ dạy và khuyến khích quên đi mọi thứ hữu hình thuộc về trần gian
để mặc lấy lòng can đảm (Cn 31:17), để nâng con lên bắt chước Mẹ. Con
hãy tận lực sao chép lại trong con các việc làm và nhân đức mà con được
biết về Cuộc Đời Mẹ. Đây chính là mục đích thứ nhất của kiến thức con
nhận được khi viết lịch sử này. Con có gương mẫu tuyệt hảo ở Mẹ, nhờ
gương mẫu đó con có thể sắp xếp việc sửa đổi và quản trị cuộc đời con
theo cùng một cách Mẹ đã sắp xếp cho Mẹ do việc bắt chước Con vô cùng
hiền dịu của Mẹ. Nếu sự e sợ xúi bẫy con rằng lệnh truyền phải bắt chước
Mẹ là quá sức, con phải tự chế, phải tự khuyến khích bằng những lời Con
chí thánh Mẹ nói trong Phúc Âm thánh Mátthêu: “Anh em phải trọn lành như
Cha anh em ở trên trời là Đấng Trọn Lành” (Mt 5:48). Lệnh truyền này của
Đấng Tối Cao đặt ra cho Giáo Hội không phải không thể chu toàn. Nếu các
con cái trung thành của Chúa biết sắp xếp cách thích nghi, Chúa sẽ không
từ chối một ai ân sủng đạt được sự nên giống như Cha trên trời. Con chí
thánh Mẹ đã xin được những ơn này cho mọi người. Nhưng sự lãng quên lơ
là suy đồi của loài người cản trở không làm cho các hoa trái Ơn Cứu Độ
chín mùi trong họ.
Mẹ đặc biệt trông chờ sự trọn lành ở con. Mẹ mời con tiến tới trọn lành
nhờ luật yêu thương ngọt ngào kèm theo lời Mẹ chỉ dạy. Nhờ ánh sáng siêu
nhiên, con hãy suy xét cân nhắc cẩn thận bổn phận Mẹ đặt cho con và làm
đúng bổn phận đó như một người con trung thành tận tụy. Đừng để bất cứ
khó khăn hoặc vất vả nào làm xáo trộn con, hoặc ngăn cản con trong bất
cứ việc thực hành nhân đức nào, cho dù việc đó khó khăn bao nhiêu chăng
nữa. Con cũng đừng bằng lòng chỉ với việc phấn đấu đạt được tình yêu
Chúa và cứu rỗi một mình con mà thôi. Nếu con được trọn lành trong việc
bắt chước Mẹ chu toàn mọi điều Phúc Âm dạy, con phải làm việc cho phần
rỗi các linh hồn khác, ca tụng thánh danh Thiên Chúa Con Mẹ, làm cho
chính con trở nên dụng cụ của Chúa trong việc hoàn thành các công trình
phi thường của Ngài để tăng thêm sự hài lòng và vinh quang Chúa.
CHƯƠNG 4
CHÚA
KITÔ, ĐẤNG CỨU CHUỘC NHÂN LOẠI, GIÁNG SINH BỞI ĐỨC TRINH MẪU MARIA TẠI
BETHLEHEM, XỨ JUDEA
Cung điện, được Vua Tối Cao trên hết các vua và Chúa trên hết các chúa
chọn để đón mừng Con hằng hữu nhập thể, là một túp lều hoặc hang đá
nghèo nàn hèn hạ. Đức Hiền Mẫu Maria và thánh Giuse tới hang đá này sau
khi đã bị loài người từ chối mọi tiếp nhận cho tạm trú với lòng hảo tâm
tối thiểu. Hang đá này hèn hạ đến độ khắp Bethlehem có vô số khách lạ
thiếu chỗ trọ, nhưng không một ai tự hạ tới mức dùng làm chỗ trú đêm.
Không một ai cho rằng nơi này thích hợp hoặc đáng dùng làm nơi tạm trú,
ngoại trừ các Bậc Thầy đức khiêm tốn khó nghèo là Chúa Cứu Thế, Thánh
Mẫu cực trinh khiết và thánh Dưỡng Phụ Giuse. Thiên Chúa Cha hằng hữu đã
dành hang chiên bò này cho Chúa Cứu Thế và Đức Hiền Mẫu, thánh hoá nơi
đó bằng sự trống không trơ trụi hoang vắng nghèo hèn để làm đền thờ thứ
nhất của Ánh Sáng (Malaki 4:2, Tv 111:4), là cung điện cho Mặt Trời công
chính đích thực, Mặt Trời từ nơi Bầu Trời Hừng Đông Maria mọc lên cho
những tâm hồn ngay chính, biến đêm tội lỗi thành ngày ân sủng.
Khi bước vào nơi tạm trú được dành sẵn, do ánh sáng rực rỡ của muôn ngàn
thiên thần hộ vệ, Đức Maria và thánh Giuse dễ dàng nhận thấy sự nghèo
nàn quạnh hiu của hang đá, nhưng các ngài coi trọng như đặc ân, chào đón
bằng những giọt lệ vui mừng an ủi. Không chần chờ, hai Vị Lữ Khách thánh
thiện quì gối chúc tụng, cảm tạ Thiên Chúa vì ân huệ mà các ngài biết đã
được dành cho mình do thánh ý khôn ngoan nhiệm mầu. Công Chúa Maria hiểu
thấu đáo mầu nhiệm này hơn vì ngay khi thánh hóa phía trong hang bằng
những bước chân, Người cảm thấy chan hòa vui mừng phấn khởi. Đức Maria
xin Thiên Chúa chúc lành dồi dào cho mọi cư dân trong thành, vì từ chối
không tiếp nhận Người, họ đã dành cho Người cơ hội hưởng những ân huệ vĩ
đại được chờ đợi tại hang đá hoang vu này. Hang này toàn bằng đá sần
sùi, một nơi chỉ dành làm chỗ trú cho súc vật; vậy mà Thiên Chúa Cha
hằng hữu đã chọn làm nơi Con Một Ngài giáng sinh.
Các thiên thần hợp thành những đạo quân như các đoàn vệ sĩ bảo vệ Đức Nữ
Vương. Các thiên thần cũng hiện rõ với thánh Giuse vì dịp này ngài xứng
đáng được hưởng đặc ân đó. Một mặt, để làm dịu bớt nỗi đau buồn của ngài
bằng cách để cho ngài thấy chỗ trú nghèo nàn này được trang hoàng bằng
sự hiện diện của các thiên thần. Mặt khác, để tưởng lệ, chuẩn bị tinh
thần thánh Giuse đón tiếp những biến cố vĩ đại vô cùng Thiên Chúa an bài
xảy ra trong đêm nay tại hang đá trống vắng này. Đức Maria, được thông
báo đầy đủ về mầu nhiệm xảy ra tại đây, đã khởi sự bằng chính tay Người
dọn dẹp hang đá, mà chẳng mấy chốc nữa sẽ được dùng làm ngai tòa, là đền
thờ Thiên Chúa. Đức Hiền Mẫu Maria không muốn lỡ dịp này thi hành đức
khiêm nhượng, Mẹ cũng không muốn để Con Một vô cùng yêu dấu Mẹ không
được thờ lạy tôn thờ ám chỉ trong việc chuẩn bị này là dọn dẹp đền thờ
Chúa.
Thánh Giuse, ý thức địa vị cao cả của Đức Maria (đối với ngài thì dường
như Người quên mất địa vị cao cả của mình trong việc nồng nàn ước ao
được khiêm nhượng), đã nài nỉ Đức Maria đừng tước đoạt việc này, mà ngài
coi là được dành riêng cho mình. Thánh Giuse mau mắn khởi sự lau chùi
nền và các góc hang. Đức Maria khiêm nhượng tiếp tục phụ giúp ngài. Theo
cách chúng ta nói, các thiên thần bối rối trước sự sốt sắng thi hành đức
khiêm tốn của Đức Maria, nên đã mau mắn phụ giúp dọn dẹp hang đá. Chỉ
trong nháy mắt các thiên thần đã lau chùi dọn dẹp hang đá gọn gàng và
tỏa hương thơm thiên đàng ngào ngạt. Bằng những vật liệu đem theo, thánh
Giuse nhóm lửa. Trời rất lạnh, Mẹ Maria và thánh Giuse ngồi sưởi bên
đống lửa. Các ngài chia sẻ thực phẩm đem theo, dùng bữa tối thanh đạm
với niềm hân hoan vô biên. Mẹ Maria hết sức ngây ngất khi nghĩ tới mầu
nhiệm Chúa Cứu Thế Giáng Sinh sắp xảy ra, nên không muốn dùng thực phẩm
nếu không bị thúc giục bởi đức vâng lời đối với thánh phu quân Giuse.
Bữa tối xong, Đức Maria và thánh Giuse tạ ơn Chúa như thường lệ. Sau khi
cầu nguyện và chuyện vãn về các mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể một lát, Đức
Trinh Mẫu cảm thấy gần tới giờ Chúa Cứu Thế giáng sinh, Người yêu cầu
thánh Giuse đi nghỉ vì đêm đã khuya. Trước khi lui về nghỉ, với mền
chiếu đem theo, thánh Giuse sửa soạn máng cỏ thành một thứ giường. Để
Đức Maria ở phần hang được chuẩn bị như thế, thánh Giuse lui ra một góc
ở gần cửa hang, ở đây ngài bắt đầu cầu nguyện. Lập tức thánh Giuse được
Thần Linh Thiên Chúa viếng thăm, cảm thấy hết sức ngọt ngào khác thường,
được bao bọc trong Thiên Chúa và được nâng lên ngất trí (= xuất thần).
Trong khi ngất trí, thánh Giuse thấy tất cả mọi việc xảy ra trong đêm
nay tại hang đá diễm phúc này cho tới khi Đức Hiền Mẫu Maria gọi, ngài
mới tỉnh lại.
Đức Nữ Vương muôn loài, từ nơi đang nghỉ, được Thiên Chúa lớn tiếng gọi.
Tiếng gọi đó đã mạnh mẽ mà dịu dàng nâng Người lên trên mọi thụ tạo và
cảm thấy những ảnh hưởng mới của quyền năng Thiên Chúa. Đây là một trong
những lần ngất trí lạ lùng nhất Mẹ được hưởng. Đức Maria lập tức được
tràn đầy ơn soi sáng và ảnh hưởng siêu nhiên đặc biệt, cho tới khi nhìn
rõ Thiên Chúa. Tấm màn rơi xuống và Đức Maria nhìn trực diện chính Thiên
Chúa trong ánh sáng huy hoàng. Người được ơn khôn ngoan, mà mọi khả năng
của cả loài người và các thiên thần không thể hiểu thấu đáo hoặc diễn tả
đầy đủ. Tất cả sự hiểu biết về thiên tính và nhân tính của Con cực
thánh, Đức Maria đã từng nhận được trong các thị kiến trước, đều được
canh tân; hơn nữa các mầu nhiệm khác về mọi điều tích chứa vô tận trong
lòng Thiên Chúa đều được tiết lộ cho Mẹ. Chúng tôi không có ngôn từ
thích hợp đủ để diễn tả những gì được phép nhìn thấy trong các mầu nhiệm
này nhờ ánh sáng siêu nhiên; sự phong phú và quá nhiều của các mầu nhiệm
đó làm cho chúng tôi phải nhìn nhận mình nghèo nàn, thiếu khả năng diễn
tả.
Đấng Tối Cao thông báo cho Đức Trinh Mẫu thời gian Chúa đến trong thế
gian đã tới và cách thức việc này bây giờ phải được hoàn thành. Đức
Trinh Mẫu nhìn thấy trong thị kiến này mục đích cùng giá trị cao cả vô
cùng các mầu nhiệm lạ lùng liên quan đến chính Chúa Cứu Thế và toàn thể
nhân loại, vì họ mà các mầu nhiệm này đã được ấn định từ thuở đời đời.
Đức Maria sấp mình trước thánh nhan Thiên Chúa, chúc tụng tôn vinh, tạ
ân, ca ngợi Chúa cho chính Người và thay cho mọi thụ tạo. Đồng thời Đức
Maria xin Thiên Chúa ban ánh sáng và ân sủng mới để có thể xứng đáng đảm
đương việc phục vụ, thờ lạy, nuôi dưỡng Ngôi Lời Nhập Thể, mà Người sẽ
ẵm bồng, chăm sóc, nuôi dưỡng bằng sữa trinh khiết. Vì hiểu rõ tính chất
cao cả của mầu nhiệm này, Đức Hiền Mẫu thiên đàng dâng lên lời cầu xin
với lòng khiêm tốn sâu thẳm nhất. Đức Maria tự coi mình không xứng đáng
với địa vị nuôi dưỡng, đối thoại như một hiền mẫu với Thiên Chúa nhập
thể mà nhiệm vụ đó cho dù các thiên thần Seraphim cao cấp nhất cũng
không đủ khả năng. Đức Hiền Mẫu khôn ngoan suy nghĩ cân nhắc vấn đề này
cách thận trọng và khiêm nhượng. Vì Đức Maria hạ mình xuống tới bụi đất,
nhìn nhận sự hư vô của mình trước thánh nhan Thiên Chúa Toàn Năng, Thiên
Chúa đã nâng Người lên, tái xác nhận trên Người tước vị MẸ THIÊN CHÚA.
Thiên Chúa truyền cho Đức Maria thi hành địa vị và chức vụ MẸ ĐÍCH THỰC
VÀ HỢP PHÁP của CHÍNH CHÚA. Đức Maria sẽ phải đối xử với Ngôi Lời Nhập
Thể là CON Thiên Chúa Cha hằng hữu, đồng thời là CON của lòng dạ Người.
Đức Trinh Mẫu Maria ở trong tình trạng ngây ngất thị kiến hạnh phúc này
hơn một tiếng đồng hồ trước khi sinh hạ Thiên Chúa làm người. Khi ra
khỏi thị kiến, phục hồi việc sử dụng giác quan, Đức Maria cảm thấy và
nhìn thấy thân xác Thiên Nhi bắt đầu chuyển động trong dạ trinh khiết
của Người để rời khỏi nơi Chúa đã cư ngụ chín tháng. Lúc này Hài Nhi
Thiên Chúa chuẩn bị để ra khỏi Phòng Cưới Thánh. Việc chuyển động này
chẳng những không gây ra một chút đau đớn hoặc khó chịu nào như nơi các
con gái khác của Adong Evà khi sinh con, nhưng làm cho Đức Maria chìm
ngụp trong niềm vui hoan hỉ khôn sánh, tạo ra trong linh hồn thân xác
cực trinh khiết Mẹ những hiệu lực siêu nhiên lạ lùng vượt quá mọi tư
tưởng loài người. Thân xác Đức Trinh Mẫu Maria trở nên hết sức tuyệt vời
với vẻ đẹp thiên đàng đến mức dường như Mẹ không còn là người ta, không
còn là thụ tạo ở trần thế nữa. Mặt Đức Maria tỏa hào quang tựa mặt trời,
sắc da phơn phớt hồng, chiếu sáng trong vẻ trang trọng uy nghi khôn tả,
mọi thứ đều bừng bừng lửa yêu mến nồng nàn. Đức Maria quì trong máng cỏ,
mắt nhìn lên trời, hai tay chắp trước ngực, linh hồn đắm chìm trong
Thiên Chúa và chính Người được hoàn toàn thần hoá.
Trong tư thế này, lúc nửa đêm, vào cuối thị kiến của Đức Maria, Mặt Trời
Công Chính đã giáng sinh rực rỡ xinh đẹp tuyệt vời, Đấng là Con Một
Thiên Chúa Cha hằng hữu và Con Đức Maria vô nhiễm nguyên tội cực trinh
khiết. Đức Maria được bảo toàn nguyên vẹn tinh tuyền trong trắng, được
làm cho giống Thiên Chúa hơn và thánh đến muôn đời; vì Chúa Giêsu đã
không chia cắt, nhưng thấm qua cung lòng trinh khiết Đức Maria như những
tia sáng mặt trời thấu qua pha lê tinh tuyền làm cho nó trở nên rực rỡ
toàn diện. Chúa Hài Đồng đã ra khỏi lòng Mẹ Maria mà không bị cản trở
bởi bất cứ thứ gì về thể xác và vật chất. Chúa tiến ra vinh quang sáng
ngời. Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng đã ấn định rằng sự vinh quang linh
hồn cực châu báu Chúa trong ngày Chúa giáng sinh sẽ thông cho thân xác
cực thánh Chúa những vinh quang cùng cách như xảy ra về sau trong ngày
Chúa hiển dung trước mặt ba Tông Đồ trên núi Tabor (Mt 17:2). Phép lạ
này không cần thiết để thấu qua lòng Mẹ Maria và giữ cho sự trinh khiết
của Mẹ nguyên vẹn không bị suy suyển; vì nếu không có phép lạ Biến Hình
này, Thiên Chúa cũng đã làm cho việc này xảy ra bằng những phép lạ khác.
Chính thánh ý Chúa muốn Đức Trinh Mẫu nhìn xuống thân xác Con của Người,
Thiên Chúa làm người, lần đầu tiên trong trạng thái được vinh quang vì
hai lý do. Một là để qua thị kiến này Đức Hiền Mẫu nhận thức được lòng
tôn kính cao cả nhất đối với sự Uy Nghi của Đấng mà Người phải đối xử là
Con của mình, đích thực là Thiên Chúa làm người. Mặc dầu Đức Maria đã
được cho biết về hai bản tính của Chúa Cứu Thế, Chúa định rằng do việc
hiển lộ mà mắt thấy rõ ràng, Đức Trinh Mẫu được ban tràn đầy ân sủng
xứng hợp với sự cao cả của Con cực thánh. Lý do thứ hai là để qua sự lạ
lùng này thưởng công lòng trung tín thánh thiện của Mẹ Thiên Chúa. Cặp
mắt trinh trắng của Mẹ, đã vì tình yêu đối với Con cực thánh mà tránh xa
mọi thứ ở trần thế, phải được nhìn thấy Chúa ngay khi Giáng Sinh trong
vinh quang này, để do đó được vui mừng, được thưởng công vì tình yêu
thương tuyệt vời và trung thành.
Thánh sử Luca kể rằng Đức Trinh Mẫu, sau khi sinh Con Đầu Lòng, đã bọc
Con cực thánh trong khăn và đặt trong máng cỏ. Hai Tổng Lãnh Thiên Thần
Michael và Gabriel là phụ tá cho Đức Trinh Mẫu trong dịp này. Khi Ngôi
Lời Nhập Thể, do quyền năng Thiên Chúa của mình, thấu qua lòng dạ trinh
khiết của Đức Hiền Mẫu đã đến trong ánh sáng, hai Tổng Lãnh Thiên Thần
đón rước Chúa trong tay các ngài với lòng tôn kính cao cả. Cùng một thể
thức khi linh mục dâng Bánh Thánh lên để mọi người thờ lạy, hai Tổng
Lãnh Thiên Thần đã dâng Thiên Chúa Con vinh hiển sáng chói lên Đức Hiền
Mẫu Maria rất thánh. Toàn thể việc này xảy ra trong khoảng thời gian
ngắn. Khi hai Tổng Lãnh Thiên Thần dâng Chúa Hài Đồng cho Đức Hiền Mẫu
Maria, hai Mẹ Con nhìn nhau. Trong cái nhìn này, Đức Trinh Mẫu yêu mến
Hài Nhi hiền dịu này đến chết được, đồng thời được nâng cao phẩm giá,
biến dạng trong Chúa Hài Đồng. Từ tay các Tổng Lãnh Thiên Thần, Chúa các
tầng trời nói với Đức Hiền Mẫu rất thánh: “Hỡi Mẹ, hãy nên giống Con, vì
từ nay trở đi, do thân xác nhân loại Mẹ đã cho Con, Con sẽ cho Mẹ sự
hiện hữu trong ân sủng đáng ca tụng hơn nữa, đồng hoá sự hiện hữu của Mẹ
vốn chỉ là một thụ tạo nên giống sự hiện hữu của Con, Đấng là Thiên Chúa
và là người ta.” Đức Hiền Mẫu cực khôn ngoan đáp lời: “Lạy Chúa, xin hãy
nâng tôi dậy, hãy nâng tôi lên, tôi sẽ chạy theo Ngài vì mùi dầu thơm
Ngài xức” (Dc 1:3). Cùng thể thức đó nhiều mầu nhiệm bí ẩn trong các
Diệu Ca đã được hoàn tất.
Những lời Đức Hiền Mẫu Maria nghe từ miệng Con chí thánh cho Mẹ hiểu các
hành động bên trong của linh hồn cực thánh Chúa Cứu Thế kết hợp với
Thiên Tính, để do việc bắt chước các hành động đó Mẹ có thể nên giống
Chúa. Đây là một trong những đặc ân cao cả nhất mà Đức Hiền Mẫu hạnh
phúc cực kỳ trung tín nhận được từ Con cực thánh, Đấng là Thiên Chúa
thực và người thực. Đặc ân này không những chỉ liên tiếp từ ngày đó cho
tới hết cuộc đời Đức Trinh Mẫu, mà chính đặc ân đó cung cấp cho Mẹ
phương tiện rập khuôn cuộc sống thiên tính của Ngôi Lời Nhập Thể cách
trung tín có thể được đối với một thụ tạo. Cùng lúc đó Đức Maria thấy và
cảm được sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh, Người nghe tiếng
Thiên Chúa Cha hằng hữu phán: “Đây là Con Yêu Dấu của Ta, nơi Con, Ta
rất hài lòng và hoan hỉ” (Mt 17:5). Đức Maria, đã được làm cho hoàn toàn
giống Thiên Chúa, được đầy tràn hết sức nhiều bí tích, đáp lời: “Lạy
Thiên Chúa Cha hằng hữu, là Thiên Chúa cao cả, là Chúa và là Đấng tạo
thành vũ trụ, xin cho con lại được phép và chúc lành của Chúa để tiếp
nhận trong cánh tay con Đấng muôn dân ước ao trông chờ (Agg. 2:8); xin
dạy con chu toàn thánh ý Chúa trong tư cách một người mẹ bất xứng và nô
lệ hèn hạ của Chúa.” Đức Hiền Mẫu nghe tiếng Thiên Chúa Cha: “Hãy nhận
lấy Con Một Yêu Quí của Người, hãy nuôi dưỡng và bắt chước Chúa Con. Hãy
nhớ Người phải hiến dâng Chúa Con khi nào Ta đòi hỏi việc đó ở Người.”
Đức Hiền Mẫu thiên đàng đáp: “Xin Chúa hãy đoái nhìn thụ tạo của tay
Chúa, xin trang điểm con bằng ân sủng Chúa để Con của Chúa và là Thiên
Chúa của con nhận con là nô lệ; nếu Chúa giúp con bằng Quyền Năng Vô
Biên, con sẽ trung thành phụng sự Con Chúa; xin Chúa đừng kể đến lòng tự
phụ nơi thụ tạo hèn hạ này, vì nàng ẵm trong cánh tay, nuôi Chúa và Đấng
Tạo Hóa bằng sữa của mình.”
Sau những lời trao đổi hết sức mầu nhiệm này, Chúa Hài Đồng ngưng phép
lạ hiển dung. Chúa khởi sự một phép lạ khác là ngưng các hiệu lực vinh
hiển trong thân xác cực châu báu, chỉ để các hiệu lực vinh hiển trong
linh hồn và mặc lấy vẻ bề ngoài của một người có thể chịu đau khổ. Lúc
này Đức Hiền Mẫu Maria nhìn Chúa Con dưới hình hài con người bình
thường. Vẫn còn khiêm tốn thẳm sâu tôn kính quì thờ lạy Chúa, Đức Maria
đón ẵm Chúa Hài Đồng từ tay hai Tổng Lãnh thiên thần. Khi ẵm Chúa trong
tay, Đức Hiền Mẫu rất thánh nói với Chúa: “Tình Yêu ngọt ngào nhất của
mẹ, Ánh Sáng mắt mẹ, Linh Hồn mẹ, Con đã đến thế gian này sớm giờ, như
Mặt Trời Công Chính (Malaki 4:2), để xua đuổi bóng tối tội lỗi và sự
chết! Lạy Thiên Chúa thực của các thần thánh, xin cứu các tôi tớ Chúa,
cho muôn dân được nhìn thấy Chúa, Đấng đến cứu độ muôn dân (Is. 9:2).
Xin Chúa nhận mẹ làm nữ tì của Chúa, làm nô lệ của Chúa, xin bù đắp sự
thiếu thốn của mẹ, để mẹ có thể xứng đáng phụng sự Chúa. Con của mẹ, xin
làm cho mẹ trở nên như Con muốn trong việc phụng sự Con.” Kế đó, Đức
Hiền Mẫu ngước nhìn và dâng lên Thiên Chúa Cha: “Lạy Đấng Tạo Hóa cả vũ
trụ đáng chúc tụng, đây là Bàn Thờ và Lễ Vật đáng chấp nhận trong mắt
Chúa (Malaki 3:4). Từ giờ phút này trở đi, lạy Chúa, xin đoái nhìn nhân
loại với lòng thương xót; vì chúng con đã đáng chịu cơn thịnh nộ của
Chúa, bây giờ là lúc Chúa được làm cho khuây khỏa trong Con của Chúa và
của con. Xin Chúa ngưng phép công thẳng, xin để cho lòng thương xót Chúa
được tôn vinh; vì Ngôi Lời đã mặc lấy thân xác kẻ tội lỗi (Rom 8:3), trở
nên Anh Em của loài người và những kẻ tội lỗi (Philip 2:7). Với tước vị
này, con nhìn nhận tất cả những người đó là anh em, con cầu xin cho họ
từ đáy linh hồn con. Lạy Chúa, mặc dầu con không xứng đáng, Chúa đã làm
cho con nên mẹ của Con Một Chúa, địa vị này vượt trên mọi xứng đáng của
một thụ tạo. Nhưng con cũng mắc nợ một phần đối với nhân loại vì cơ hội
hạnh phúc tốt lành khôn sánh này; chính vì họ mà con là mẹ của Ngôi Lời
làm người, Đấng là Chúa cứu chuộc cả loài người. Con sẽ không từ chối họ
tình yêu của con; con sẽ ân cần lo lắng cho việc cứu chuộc họ. Lạy Thiên
Chúa hằng hữu, xin Chúa nhận những ước nguyện và lời con cầu xin theo sự
hài lòng và thánh ý Chúa.”
Đức Hiền Mẫu hay thương xót cũng nói với các thiên thần và mọi người
trần thế: “Xin cho những người đau khổ được an ủi, người phiền muộn được
vui mừng, người gục ngã chỗi dậy, những người bứt rứt lo âu được yên
nghỉ. Xin cho các người công chính và các thánh vui mừng hoan hỉ; các
thiên thần trên trời vui mừng; các thánh Tiên tri các thánh Tổ nơi lâm
bô đón lấy niềm hy vọng mới; muôn thế hệ phải chúc tụng tôn vinh Chúa,
Đấng canh tân mọi kỳ công của mình. Hỡi những người nghèo khó hãy đến;
đến gần đây hỡi những người bé nhỏ, đừng sợ hãi chi cả, vì trong tay
tôi, tôi bồng ẵm Sư Tử được làm cho trở nên Con Chiên, Đấng Toàn Năng
trở nên yếu đuối, Đấng Vô Địch đã bị chinh phục. Mọi người hãy đến rút
lấy sự sống, mau mắn đạt lấy Ơn Cứu Độ, đến để được an nghỉ đời đời, vì
tôi có sẵn mọi thứ này cho tất cả mọi người, được ban cho mọi người cách
'nhưng không' và truyền thông với mọi người mà không đố kỵ. Đừng chậm
chạp hững hờ, hỡi con cái loài người.”
Kế đó, Đức Trinh Mẫu nói với Chúa Hài Đồng: “Lạy Chúa, niềm vui ngọt
ngào nhất linh hồn mẹ, xin cho mẹ được phép nhận từ Chúa nụ hôn mọi thụ
tạo ước ao.” Với lời đó Đức Hiền Mẫu áp làn môi cực trinh khiết để nhận
nụ hôn của Chúa Hài Đồng, mà về phần Chúa, vì là Con đích thực của Mẹ
Maria, đã ao ước được Đức Hiền Mẫu rất thánh hôn.
Ẵm Chúa Hài Đồng trong tay, Mẹ Maria phụng sự như bàn thờ và thánh điện,
nơi muôn ngàn thiên thần dưới hình người ta thờ lạy Đấng Tạo Thành nhập
thể làm người. Thiên Chúa Ba Ngôi tham dự cách đặc biệt việc Ngôi Lời
Giáng Sinh, thiên đàng hầu như không còn một ai, vì cả triều đình thiên
đàng đã đến hang đá đáng chúc tụng của thành Bethlehem để thờ lạy Đấng
tạo thành trời đất mặc lấy hình thể phàm nhân (Philip 2:7). Trong hợp
tấu chúc tụng, các thiên thần hát ca khúc mới: “Vinh Danh Thiên Chúa
trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2:14).
Trong hoà âm dịu dàng vang dội, các thiên thần lặp lại ca khúc đó và
sững sờ kinh ngạc trước những phép lạ mới được hoàn thành, vì sự khôn
ngoan, vẻ kiều diễm, khiêm nhượng, sắc đẹp tuyệt vời khôn tả của Xuân Nữ
mười lăm tuổi, Người đã trở nên Người Thụ Thác và Quản Lý những bí tích
bao la cao cả như thế.
Bây giờ đã đến lúc gọi thánh Giuse, vị phu quân trung tín. Thánh Giuse
hết sức xứng đáng được nhìn thấy trước mọi người khác, với mọi cảm quan
thân xác, ngài được hiện diện và tham dự, thờ lạy tôn kính Ngôi Lời mặc
thân xác loài người; vì ngài, duy nhất trong muôn người, đã được tuyển
chọn làm người trung thành bảo vệ bí tích vĩ đại này. Do sự ước ao của
Đức Hiền Mẫu Maria, thánh Giuse ra khỏi cơn ngất trí (xuất thần). Khi
hồi tỉnh, mắt ngài nhìn thấy trước tiên là Chúa Hài Đồng trong tay Đức
Trinh Mẫu, đang nằm áp vào mặt và tựa vào ngực thánh Mẹ. Thánh Giuse thờ
lạy Chúa Hài Đồng với lòng khiêm tốn nhất, mắt đẫm hoan lệ. Thánh Giuse
hôn chân Chúa Hài Đồng với niềm vui mừng kính trọng sâu thẳm, đến mức
chắc là ngài đã chết hoặc mất đi hoàn toàn việc sử dụng các giác quan
nếu quyền năng Thiên Chúa không bảo vệ. Khi thánh Giuse thờ lạy Chúa Hài
Đồng, Mẹ Maria xin phép Con Cực Thánh để đứng lên.
Sau khi đã bọc Chúa Hài Đồng trong khăn, Đức Hiền Mẫu rất thánh đặt Chúa
trong máng cỏ, như thánh Luca kể lại (Lc 2:7). Do thánh ý Chúa, một con
bò đực từ cánh đồng lân cận vội vàng chạy vào trong hang. Mẹ Maria ra
lệnh cho con bò này và con lừa đã đỡ chân Mẹ từ Nazareth tới đây, bằng
cử chỉ tỏ lòng tôn kính thích hợp có thể được, nhận biết và thờ lạy Đấng
tạo dựng chúng. Hai con vật khiêm tốn, vâng lệnh Đức Nữ Vương, quì phục
thở hơi sưởi ấm Chúa Hài Đồng, dâng lên Chúa việc phụng thờ mà loài
người từ chối. Như thế Thiên Chúa Làm Người được đặt nằm giữa hai con
vật, bọc trong khăn và hoàn tất cách kỳ lạ lời tiên tri: “con bò biết
chủ của nó, con lừa biết máng cỏ của chủ nó; nhưng dân Israel không nhận
biết Ta, dân Ta không hiểu” (Is. 13).
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, nếu loài người giữ trái tim thanh thản và suy nghĩ cách ngay
thẳng chính đáng về lòng nhân từ của Đấng Tối Cao đối với họ, thì điều
này là phương tiện hữu hiệu mạnh mẽ hướng dẫn người ta trong cuộc sống,
khiến họ qui phục tình yêu của Đấng tạo dựng và cứu độ họ. Nếu người ta
dùng khả năng suy nghĩ và sự tự do mà tôn kính đối xử thích đáng với
nhiệm tích vĩ đại này, hỏi ai có thể quá sức cứng cỏi không cảm động mềm
lòng khi thấy Thiên Chúa của họ trở nên người trần gian, bị sỉ nhục
trong sự nghèo hèn, bị khinh miệt, ẩn dật vô danh, sinh xuống trần gian
trong hang bò lừa, nằm trong máng cỏ, được những thú vật vây quanh, chỉ
được bảo vệ bởi một bà mẹ nghèo nàn, bị loài người kiêu căng điên khùng
xua đuổi? Ai dám yêu những thứ phù du và kiêu căng, điều bị Chúa Tể Tạo
Thành trời đất khinh ghét và kết án? Không ai dám khinh chê sự khiêm
nhượng nghèo hèn cần cù mà Thiên Chúa yêu thích đã tự chọn cho Mình làm
chính phương tiện giảng dạy đường tới phần rỗi đời đời. Một số người bỏ
không suy nghĩ về chân lý và gương sáng này, mà vì bội bạc khốn nạn, chỉ
có ít người gặt hái được hoa trái của những huyền nhiệm cao siêu này.
Nếu sự hạ cố của Con cực thánh Mẹ quá sức vĩ đại khi Chúa rộng lượng ban
cho con ơn soi sáng và hiểu biết liên quan đến những hồng ân bao la này,
con hãy suy xét cẩn thận: con có bổn phận phải cộng tác với ơn soi sáng
này thế nào. Để con có thể đáp ứng đòi hỏi này, Mẹ nhắc và khuyến khích
con quên đi mọi thứ thuộc về thế gian, gạt chúng ra khỏi ánh mắt; không
tìm kiếm thứ gì, không dính líu đến một thứ gì ngoài những thứ có thể
giúp rút con ra, tách con khỏi thế gian và những kẻ ở trong đó. Để với
trái tim không vương mắc một chút lưu luyến trần tục, con tôn vinh các
mầu nhiệm đức khó nghèo khiêm tốn và yêu thương của Ngôi Lời Nhập Thể.
Con hãy học ở Mẹ lòng tôn thờ kính úy mà theo đó con phải cư xử với
Chúa. Con hãy nhớ Mẹ đã hành động thế nào khi bồng ẵm Chúa. Hãy theo
gương Mẹ bất cứ khi nào con rước vào lòng con Chúa trong Phép Thánh Thể
đáng tôn thờ, mà trong Phép Thánh Thể cũng chính là Thiên Chúa làm
người, Đấng đã do lòng Mẹ sinh ra. Trong Phép Thánh Thể, con rước Chúa
và chiếm hữu Chúa cách đích thực, Chúa ở lại trong con đích thực, như Mẹ
đã chiếm hữu Chúa và nói chuyện với Chúa, mặc dầu theo cách khác.
Mẹ ước ao con đạt tới cực điểm trong việc tôn thờ kính úy này. Mẹ ước ao
con chú ý và tin rằng khi Chúa trong Phép Thánh Thể ngự vào lòng con,
Thiên Chúa khuyến khích con cũng bằng những lời Chúa nói với Mẹ mà con
đã ghi: “Hãy nên giống như Cha”. Việc Chúa từ trời xuống thế, sinh ra,
sống và chết khiêm tốn khó nghèo, là gương sáng đặc biệt hiếm có về bỉ
ổi trần thế và những lừa dối của nó. Tất cả những thứ này phải là những
tiếng nói sống động con phải nghe theo, phải ghi khắc trong tim. Tất cả
những đặc ân này được ban cho con để con khôn ngoan tận dụng các ơn
thông thường, để con hiểu phải biết ơn chừng nào đối với Con cực thánh
và Chúa của Mẹ. Con phải tận lực cố gắng đáp lại lòng nhân lành Chúa,
chẳng khác gì Chúa từ thiên đàng xuống trần gian chỉ để cứu chuộc một
mình con, và chẳng khác gì Chúa lập ra các Bí Tích lạ lùng và giáo lý
trong Giáo Hội không phải cho ai khác mà chỉ cho một mình con (Galata
7:12).
CHƯƠNG 5
* CÁC MỤC
TỬ THỜ LẠY CHÚA GIÁNG SINH;
* CHÚA HÀI ĐỒNG CHỊU PHÉP CẮT BÌ
Sau khi triều thần thiên đàng đã mừng Thiên Chúa làm người giáng sinh
tại hang đá gần cổng thành Bethlehem, một số thiên thần được phái đi các
nơi đem tin vui mừng cho những người, theo thánh ý Chúa, xứng đáng nhận
tin vui đó. Tổng lãnh thiên thần Micae đến báo cho các thánh Tổ ở lâm bô
biết Con Một Thiên Chúa Cha hằng hữu đã sinh ra trong thế gian và đang
nằm nghỉ khiêm tốn hiền lành trong máng cỏ giữa hai con vật như các
thánh đã tiên tri. Theo lời Đức Hiền Mẫu Maria, tổng lãnh thiên thần
Micae nhân danh Mẹ đặc biệt thông báo tin mừng cho hai thánh ngoại tổ
Joakim và Anna. Tổng lãnh thiên thần Micae chúc mừng hai thánh tổ rằng
Ái Nữ của các ngài lúc này đang bồng ẵm Đấng muôn dân trông đợi và đã
được các thánh Tiên Tri loan báo (Is.7:14,9:7,v.v.). Đây là ngày hết sức
hân hoan vui mừng, ngày toàn thể các người công chính và các thánh được
hưởng trong suốt cuộc lưu đầy lâu đời.
Một trong các thiên thần được Mẹ Maria gởi tới báo tin cho bà Elisabeth
và hài nhi Gioan (Tẩy Giả). Khi được tin Chúa Cứu Thế giáng sinh, bà
Elisabeth và hài nhi Gioan, mặc dầu hài nhi Gioan lúc này mới được sáu
tháng tuổi đời, đã phủ phục thờ lạy Thiên Chúa làm người trong tinh thần
và chân lý (Gioan. 4:23). Hài nhi Gioan đã được hiến dâng làm Tiền Hô
cho Chúa Cứu Thế, được canh tân trong lòng một tinh thần nồng cháy hơn
tinh thần sốt sắng của tiên tri Elias. Bà Elisabeth xin Mẹ Maria nhân
danh hai mẹ con bà thờ lạy Chúa Hài Đồng.
Trong số những người được đặc biệt chúc phúc là các mục tử ở miền lân
cận thức đêm canh giữ bầy chiên khi Chúa Cứu Thế giáng sinh (Lc 2:8).
Những người này được chúc phúc vì họ chấp nhận thân phận vất vả khổ cực
vâng theo thánh ý Thiên Chúa, sống nghèo nàn khiêm nhượng, bị người đời
khinh chê. Các mục tử này thuộc hàng ngũ những người Do Thái có lòng
chân thành ngay thẳng, hằng tha thiết hy vọng trông chờ Chúa Cứu Thế
đến. Những người này đã nên giống như Đấng tạo thành sự sống vì được làm
cho xa cách của cải phù vân hào nhoáng trần gian, tránh xa mưu mô ác độc
của nó (Gioan 10:14). Trong mọi hoàn cảnh, các mục tử cho thấy họ sẵn
sàng thi hành nhiệm vụ, mà Mục Tử Tốt Lành tới để hoàn thành việc biết
các chiên của Ngài và chúng biết Ngài. Vì thế họ xứng đáng được Chúa Cứu
Thế mời gọi như hoa trái đầu mùa trong số các thánh, là những người đầu
tiên Ngôi Lời Hằng Hữu Nhập Thể tỏ mình cho và muốn được những người này
chúc tụng, phụng thờ. Tổng lãnh thiên thần Gabriel được phái đến với các
mục tử đang canh giữ đàn chiên.
Các mục tử ngỡ ngàng sợ hãi khi bất thình lình được bao phủ trong hào
quang thiên đàng từ thiên thần Gabriel tỏa ra. Tổng lãnh thiên thần trấn
an họ: “Hỡi những người ngay lành, đừng sợ, tôi báo cho các người tin
vui mừng vĩ đại: hôm nay Đức Kitô Chúa Cứu Thế đã giáng sinh cho các
người trong thành David. Để làm dấu chỉ sự thực này, tôi cho các người
biết: các người sẽ thấy một Hài Nhi bọc trong khăn và nằm trong máng cỏ”
(Lc 2:10,12). Khi tổng lãnh thiên thần Gabriel dứt lời, muôn vàn thiên
thần hiện ra, du dương hát ca chúc tụng Đấng Tối Cao: “Vinh Danh Thiên
Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Hát
xong lời quá sức lạ lùng đối với trần gian này, các thiên thần biến đi.
Tất cả các việc này xảy ra lúc canh tư đêm đó. Nhờ nhìn thấy các thiên
thần, các mục tử khiêm tốn nhưng tốt phúc được ơn soi sáng đã khao khát
chứng kiến tường tận mầu nhiệm cao cả vô cùng vừa mới được cho biết.
Trao đổi với nhau những ý nghĩ đầy hứng khởi do lời Thiên Sứ, các mục tử
quyết định lập tức đi Bethlehem chứng kiến điều kỳ lạ được thiên thần
báo tin. Vào trong hang đá, các mục tử thấy Đức Maria, thánh Giuse, và
Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ. Nhìn thấy cảnh này, họ nhận biết sự
thực những lời đã được nghe về Chúa Hài Đồng. Khi các mục tử nhìn Chúa,
Chúa cũng nhìn họ, toả ra từ gương mặt Chúa hào quang vĩ đại làm cho
trái tim chân thành của những người nghèo khó nhưng hạnh phúc này tan
biến trong yêu thương. Ơn Chúa đã thay đổi, canh tân những người này,
tạo dựng trong họ tinh thần ân sủng thánh thiện mới, ban cho họ sự hiểu
biết đáng tôn vinh về mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Ơn Cứu Độ cho nhân
loại.
Các mục tử phủ phục thờ lạy Ngôi Lời Thiên Chúa làm người. Không còn dốt
nát quê mùa, nhưng là những người khôn ngoan, họ thờ lạy, nhận biết, tôn
vinh Chúa là Thiên Chúa thực và người thực, Đấng khôi phục và cứu chuộc
loài người. Đức Nữ Vương thiên đàng, Thánh Mẫu của Chúa Hài Đồng, ghi
nhận tất cả mọi việc các mục tử làm trong lòng và bề ngoài; vì Mẹ nhìn
rõ tận đáy trái tim họ. Bằng sự khôn ngoan cẩn thận cao cả nhất, Đức
Maria ghi nhớ trong lòng mọi việc xảy ra, suy gẫm (Lc 2:19), đối chiếu
các mầu nhiệm tích chứa trong những việc đó với các lời tiên tri và Sách
Thánh. Là thừa tác của Chúa Thánh Thần và đại diện Chúa Hài Đồng, Mẹ
Maria nói với các mục tử, chỉ dẫn, khuyến khích họ kiên trì yêu mến
phụng sự Đấng Tối Cao. Các mục tử cũng nói với Mẹ về phần họ; những lời
đối đáp cho thấy họ hiểu nhiều điều về các mầu nhiệm này. Các mục tử ở
lại hang đá từ rạng đông cho tới trưa mới ra về, được đầy thánh sủng và
an ủi từ thiên đàng.
Khi lần đầu tiên đặt Chúa Hài Đồng trong tay thánh Giuse, Đức Mẹ nói:
“Thưa phu quân và người giúp đỡ thiếp, trong vòng tay người xin hãy nhận
lấy Đấng tạo thành trời đất, hãy vui hưởng sự đồng bạn hiền hoà dịu dàng
của Chúa, để Chúa và Thiên Chúa của thiếp được hoan hỉ và đền đáp những
phụng sự trung tín của phu quân (Cn 8:31). Xin phu quân hãy giữ lấy cho
mình Kho Tàng của Thiên Chúa Cha hằng hữu, thông phần trong đại hồng ân
này dành cho nhân loại.” Mẹ nói thầm với Chúa Hài Đồng: “Tình yêu vô
cùng ngọt ngào của linh hồn mẹ và ánh sáng mắt mẹ, Con hãy nằm nghỉ
trong tay Giuse, bạn và phu quân của mẹ. Mẹ xin Con hiệp thông ngọt ngào
với ngài, mẹ xin Con tha thứ cho sự thiếu sót của mẹ. Mẹ cảm thấy mất
mát rất nhiều cho dù chỉ trong chốc lát, nhưng mẹ ước ao truyền thông
không chút ganh tị những ơn lành Mẹ được cho tất cả những ai xứng đáng”
(Kn 7:13). Thánh Giuse hạnh phúc ý thức hồng ân mới này, hạ mình tới
đất, đáp lời: “Thưa Đức Nữ Vương thế giới, hiền thê của tôi, tôi là kẻ
bất xứng, có thể nào dám bồng ẵm chính Thiên Chúa, mà trước mắt Ngài mọi
cột trời run rẩy dao động? (Giób 26:11). Làm sao con trùng hèn hạ này có
cam đảm dám nhận đặc ân cao cả như thế? Tôi bất quá chỉ là tro bụi,
nhưng thưa Đức Nữ Vương, xin Người giúp đỡ trong sự hèn hạ của tôi và
xin Chúa nhân từ đoái nhìn và làm cho tôi nên xứng đáng nhờ hồng ân của
Người.”
Khao khát được ẵm Chúa Hài Đồng và lòng kính sợ Chúa gây ra trong thánh
Giuse các hành động yêu mến, tín trung, khiêm nhượng, anh hùng, kính
trọng thẳm sâu nhất. Run rẩy với lòng kính úy sâu xa và trong hoan lệ,
thánh Giuse quì gối đón Chúa Hài Đồng từ tay Đức Hiền Mẫu Maria. Chúa
Hài Đồng trìu mến nhìn thánh Giuse đồng thời canh tân linh hồn ngài bằng
những hồng ân hết sức cao cả. Thánh Giuse dâng lên những lời chúc tụng
mới khi thấy mình được ban cho hạnh phúc vĩ đại như thế. Sau khi thánh
Giuse đã sung sướng ẵm Chúa Hài Đồng, Đấng chứa đựng cả trời đất (Is.
40:12) một lúc, ngài đặt Chúa trở lại vòng tay Hiền Mẫu hạnh phúc Maria.
Đức Hiền Mẫu và thánh dưỡng phụ quì khi nhận và trao Chúa cho nhau. Mỗi
khi tới phiên được hạnh phúc bồng ẵm Chúa, thánh Giuse bắt chước lòng
cung kính mà Mẹ Maria thực hành mỗi khi ẵm Chúa Hài Đồng lên hoặc đặt
Chúa nằm xuống.
Từ giây phút được chọn làm Mẹ Ngôi Lời Thiên Chúa, Đức Trinh Nữ luôn suy
gẫm những vất vả khổ cực dành sẵn cho Con cực châu báu. Vì thấu triệt
Sách Thánh, Mẹ Maria hiểu mọi mầu nhiệm về Ơn Cứu Chuộc và cuộc sống
trần gian của Chúa Cứu Thế. Mẹ thấy trước và chuẩn bị cho những gì Con
cực thánh sẽ phải chịu để cứu chuộc nhân loại. Sự đau khổ thấy trước mọi
chi tiết cặn kẽ là cuộc tử đạo triền miên đối với Đức Từ Mẫu hiền lành
nhất của Chiên Thiên Chúa hy sinh (Jer 11:19). Đức Maria không nhận được
lệnh truyền hoặc chỉ dạy về thánh ý Thiên Chúa Cha đối với Nghi Lễ Cắt
Bì, nghi lễ này phải được thi hành tám ngày sau khi Chúa Hài Đồng giáng
sinh. Mẹ Maria nghĩ rằng Con cực thánh Mẹ đến trần gian để tôn vinh và
xác nhận Lề Luật Chúa bằng việc chu toàn Lề Luật; hơn nữa Chúa đến để
chịu đau khổ vì nhân loại, hẳn lòng yêu thương bừng bừng và những lý do
khác thúc đẩy Chúa chịu các đau đớn do nghi lễ này.
Tình mẫu tử và lòng trắc ẩn của Mẹ Maria hẳn ước mong chước giảm cho
Chúa Hài Đồng khỏi phải chịu sự đau đớn cắt bì. Mẹ biết nghi lễ cắt bì
được thiết lập để thanh tẩy các trẻ sơ sinh khỏi tội nguyên tổ; trái lại
Chúa Hài Đồng hoàn toàn không vương tội này. Lưỡng lự giữa tình yêu Con
cực thánh và sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha, Đức Trinh Mẫu cực khôn
ngoan đã thi hành nhiều hành động nhân đức anh hùng, làm hài lòng Thiên
Chúa. Mặc dầu Mẹ Maria có thể thoát khỏi sự phân vân này bằng cách xin
Chúa cho biết phải làm gì; nhưng vì khiêm nhượng và khôn ngoan, Mẹ dằn
lòng; Mẹ cũng không hỏi các thiên thần. Mẹ chờ thời gian thuận tiện và
cơ hội do Chúa Quan Phòng mọi sự; Mẹ không dám tò mò tìm hiểu quyết định
của Thiên Chúa bằng cách tham khảo các nguồn tin siêu nhiên, dù đặc biệt
là để tránh khỏi bất cứ sự đau buồn nào.
Khi cần phải biết thánh ý Chúa về một vấn đề nghiêm trọng hoặc điều hoài
nghi, mà trong đó có sự nguy hiểm xúc phạm đến Thiên Chúa, hoặc điều
hiểu biết cấp thiết vì ích lợi cho mọi người, trước tiên Mẹ Maria xin
được phép dâng lên lời cầu khẩn xin ơn soi sáng làm đẹp lòng Chúa. Sau
khi cầu nguyện, Mẹ Maria yêu cầu thánh Giuse xúc tiến mọi thứ cần thiết
cho nghi lễ cắt bì Chúa Hài Đồng. Mẹ nói thời gian theo luật cắt bì cho
Chúa Hài Đồng đã tới và vì không nhận được lệnh nào trái lại, thì chắc
là cần phải thi hành đúng luật đó. Mẹ Maria nói chính Mẹ và thánh Giuse
có nhiệm vụ phải làm vui lòng Thiên Chúa hơn hết mọi người, mau mắn vâng
theo thánh ý, nhiệt thành trong tình yêu mến săn sóc Con cực thánh của
Thiên Chúa Cha hơn mọi thụ tạo khác, đền đáp những hồng ân khôn sánh và
chu toàn mọi điều làm vui lòng Chúa. Thánh Giuse đáp lời Mẹ Maria: “Vì
không có lệnh nào trái lại được ban cho chúng ta về Chúa Hài Đồng, Chúa
muốn giữ mọi điều đúng như trong luật chung. Là Thiên Chúa, Ngôi Lời
nhập thể không lệ thuộc lề luật, nhưng lúc này Chúa mặc lấy bản tính
loài người, vì là Thầy cực trọn lành và là Chúa Cứu Thế, rõ ràng Chúa
muốn giữ đúng luật đó như mọi người khác.” Kế đó thánh Giuse hỏi Mẹ
Maria về cách tiến hành Nghi Lễ Cắt Bì.
Mẹ Maria nói với thánh Giuse rằng nghi lễ cắt bì sẽ được thi hành cách
đích thực cùng một thể thức như cho các trẻ sơ sinh khác, nhưng Mẹ không
trao hoặc ủy thác cho bất cứ người nào khác mà chính Mẹ sẽ ẵm Chúa Hài
Đồng. Vì sự yếu ớt non ngày của Chúa Hài Đồng hẳn nghi lễ này làm cho
Chúa đau đớn, nên cần có sẵn thuốc chống đau, thứ thuốc vẫn được dùng
vào dịp nghi lễ cắt bì. Mẹ Maria cũng xin thánh Giuse chuẩn bị sẵn bình
để trữ các thánh tích trong nghi lễ cắt bì Chúa Hài Đồng. Đức Hiền Mẫu
cẩn thận chuẩn bị một ít khăn vải để thấm máu thánh, dịp này đổ ra lần
đầu tiên vì nhân loại, để không một giọt máu thánh nào bị mất đi hoặc
rơi xuống đất. Sau các chuẩn bị, Mẹ Maria xin thánh Giuse thông báo cho
vị tư tế, yêu cầu ngài tới cử hành nghi lễ ngay tại hang đá, mà không
cần phải đưa Chúa Hài Đồng đi nơi khác.
Đức Hiền Mẫu Maria và thánh Giuse trao đổi về thánh danh đặt cho Chúa
Hài Đồng trong Nghi Lễ Cắt Bì. Thánh phu quân nói:
“Thưa bà chủ, khi thiên thần Đấng Tối Cao cho tôi biết mầu nhiệm vĩ đại
này, ngài cũng cho tôi biết Con cực thánh của hiền thê phải được đặt tên
là GIÊSU” (Mt 1: 18-21) Đức Trinh Mẫu Maria đáp: “Cũng thánh danh này
được tiết lộ cho thiếp khi Ngôi Lời mặc thân xác trong dạ thiếp. Vì thế
chúng ta nhận được thánh danh này từ nơi Đấng Tối Cao qua miệng các
thiên thần, các thừa tác của Chúa. Thật là chính đáng, chúng ta với lòng
khiêm nhượng tôn kính thi hành đúng những phân định huyền nhiệm khôn
ngoan vô cùng của Chúa, vì thế chúng ta đặt Tên cho Con Trẻ là GIÊSU.
Chúng ta sẽ đưa thánh danh này cho vị tư tế ghi vào sổ các trẻ được cắt
bì” (Lc 1:31).
Trong khi Mẹ Maria và thánh Giuse trao đổi những lời này, muôn vàn thiên
thần mang hình người ta từ thiên đàng đến hang đá Bethlehem. Các thiên
thần cầm lá thiên tuế, đội triều thiên tỏa ánh sáng chói chang, có huy
hiệu thánh danh GIÊSU trước ngực. Các ngài chia làm hai ca đoàn ở trong
hang đá, mắt không rời Vua và Chúa của mình trên cánh tay Đức Trinh Mẫu
Maria. Thủ lãnh các đạo binh thiên quốc là hai tổng lãnh thiên thần
Micae và Gabriel, rực rỡ hơn tất cả, mang nơi tay các ngài huy hiệu đặc
biệt: tên cực thánh Chúa GIÊSU, viết bằng đại tự vô cùng rực rỡ.
Hai tổng lãnh thiên thần đến trình diện Đức Hiền Mẫu: “Thưa Nữ Vương,
đây là thánh danh Con của Người (Mt. 1:21). Thánh danh này đã được viết
trong trí Thiên Chúa từ thuở đời đời, Thiên Chúa ban cho Con Một của Nữ
Vương và là Chúa của chúng thần để là dấu báo Ơn Cứu Độ cho toàn thể
nhân loại; đồng thời đặt Con của Nữ Vương trên ngai tòa David. Ngài sẽ
thống trị, chiến thắng và trừng phạt các kẻ thù, làm cho chúng trở thành
bệ dưới chân và Ngài sẽ phán xét chúng. Chúa sẽ nâng các bạn hữu của
Ngài lên vinh quang. Tuy nhiên mọi việc này phải thực hiện bằng giá khổ
đau và máu. Ngay từ bây giờ Ngài phải đổ máu ra khi nhận thánh danh,
thánh danh Đấng Cứu Thế. Việc đổ máu này sẽ là khởi đầu những đau khổ
Chúa Cứu Thế phải chịu vì vâng theo thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu. Tất
cả chúng thần, được tạo dựng để yêu mến tôn thờ và phụng sự Đấng Tối
Cao, được Thiên Chúa chỉ định phái đi phụng sự Con Một Thiên Chúa Cha và
của Nữ Vương trong mọi mầu nhiệm bí tích thuộc Luật Ân Sủng. Chúng thần
theo hầu hạ Chúa Cứu Thế cho tới khi Ngài vinh hiển ngự lên thành
Jerusalem trên trời và mở các cửa thiên đàng.”
Vị tư tế và hai phụ tá tới hang đá Giáng Sinh, nơi Ngôi Lời Nhập Thể,
nằm trong cánh tay Đức Trinh Mẫu Maria, đang chờ đợi ngài. Thoạt tiên sự
tầm thường nghèo nàn của nơi tạm trú đã khiến vị tư tế ngỡ ngàng và một
chút bối rối. Nhưng Đức Trinh Mẫu đã khiêm tốn chào đón ngài và sự cao
cả của Mẹ làm cho sự khó chịu của vị tư tế mau lẹ đổi ra sự tận tụy kính
phục. Sự bình tĩnh, vẻ uy nghiêm cao quí nhất mực của Mẹ Maria làm cho
tư tế xúc động kính trọng đối với nhân cách phi thường như thế mặc dù
không biết nguyên do. Khi nhìn gương mặt Mẹ Maria và gương mặt Chúa Hài
Đồng trong cánh tay Mẹ, vị tư tế được lòng sốt mến mẫn cảm lạ lùng. Lập
tức ông tiến hành nhiệm vụ cắt bì Chúa Hài Đồng, Thiên Chúa thật và
người thật. Cùng lúc đó Con Thiên Chúa, với lòng yêu mến khôn lường, đã
dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu ba hy lễ vô giá mà mỗi hy lễ đó đủ để
cứu chuộc cả ngàn thế giới, nếu như có ngàn thế giới khác.
Hy lễ thứ nhất là chính Ngôi Lời, vô tội và là Con Thiên Chúa thật, mặc
lấy thân phận kẻ tội lỗi (Philip 2:7) bằng việc tự mình khuất phục đối
với nghi lễ được đặt ra để làm thuốc chữa tội nguyên tổ, tuân theo các
luật lệ không ràng buộc Chúa (2 Cor. 5:21). Hy lễ thứ hai là việc Ngôi
Lời Thiên Chúa sẵn lòng chịu đau đớn do nghi lễ cắt bì, mà Chúa cảm thấy
là con người đích thực và hoàn toàn. Hy lễ thứ ba là lòng yêu mến nồng
nàn do đó Chúa Hài Đồng đổ máu ra vì loài người, tạ ân Thiên Chúa Cha đã
cho Ngài bản tính nhân loại có thể chịu đau khổ để chúc tụng vinh danh
Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa Cha chấp nhận hy lễ nguyện cầu này của CHÚA
GIÊSU. Ngôi Lời nhập thể đã dâng ba trái đầu mùa này của máu thánh Chúa
như lời hứa sẽ dâng hết đến giọt cuối cùng để hoàn thành Công Cuộc Cứu
Chuộc, xóa sạch nợ cho con cháu Adong. Đức Hiền Mẫu Maria rất thánh nhìn
thấy tất cả mọi việc làm và chuyển động bề trong của Con Một cực thánh.
Mẹ Maria thấu triệt mầu nhiệm trong hành động của Chúa Hài Đồng; Mẹ kết
hợp với Con và Chúa của Mẹ trong mọi việc Chúa đang làm và đau đớn Chúa
chịu.
Đúng với bản chất loài người của mình, Chúa Hài Đồng đã khóc chảy nước
mắt như các trẻ sơ sinh khác. Mặc dầu lưỡi dao bằng toại thạch cùn nhụt
làm cho thân xác Chúa Hài Đồng rất đau đớn, nước mắt Chúa trào ra do cái
đau cảm giác không nhiều bằng bởi sự buồn phiền siêu nhiên vì trái tim
chai đá của loài người. Đức Hiền Mẫu Maria cũng khóc, như một con chiên
trong sạch, cất tiếng lên hợp với Con Chiên vôi tội. Trong tình yêu trắc
ẩn hỗ tương Chúa Hài Đồng níu lấy Mẹ, trong khi Mẹ Maria âu yếm nhẹ
nhàng ấp ủ Chúa vào ngực trinh khiết, thâu các thánh tích và máu thánh
rơi xuống chiếc khăn.
Trong khi đó vị tư tế hỏi Hai Đấng Cha Mẹ muốn đặt tên gì cho Chúa Hài
Đồng. Vì luôn quan tâm đến danh dự của đức phu quân, Mẹ Maria đã xin
thánh Giuse nói thánh danh Chúa ra. Thánh Giuse quay sang Mẹ Maria cùng
một cách kính trọng như vậy để Mẹ hiểu rằng ngài nghĩ thánh danh Chúa
phải được Mẹ nói ra trước tiên thì thích đáng hơn. Nhưng do thánh ý Chúa
can thiệp, cả Mẹ Maria và thánh Giuse cùng nói lên một lượt: “GIÊSU là
thánh danh của Con Trẻ.” Vị tư tế nói: “Cả cha và mẹ đều đồng tâm đồng
trí, Tên mà hai người đặt cho Con Trẻ thật là vĩ đại.” Vị tư tế khắc
thánh danh GIÊSU vào tấm bảng hoặc sổ ghi danh các trẻ chịu phép cắt bì.
Đang khi viết thánh danh GIÊSU, vị tư tế xúc động khiến nước mắt tuôn
rơi tầm tã. Bỡ ngỡ vì những gì cảm thấy mà không giải thích được, vị tư
tế nói: “Tôi tin chắc Con Trẻ này sẽ là một Đại Tiên Tri của Chúa. Hãy
cẩn thận nuôi nấng Con Trẻ, và cho tôi biết tôi có thể làm gì để làm nhẹ
bớt nhu cầu của qúi vị.” Mẹ Maria và thánh Giuse đáp lời vị tư tế với
lòng khiêm nhượng biết ơn và tiễn vị tư tế ra về sau khi đã tặng quà gồm
nến và những vật khác.
Mẹ Maria đắp vào các vết thương cắt bì những thứ thuốc thường dùng trong
dịp này cho các trẻ sơ sinh. Hẳn là suốt thời gian Chúa Hài Đồng còn đau
đớn và vết thương chưa lành, Mẹ Maria không rời Chúa một lúc nào. Tình
yêu nồng nàn của Mẹ Maria vượt qua mọi hiểu biết của loài người vì tình
yêu tự nhiên của Mẹ vốn vĩ đại hơn tình yêu của bất cứ bà mẹ nào trên
trần gian; tình yêu siêu nhiên của Mẹ vượt hơn tình yêu của tất cả mọi
thần thánh hợp lại. Lòng Mẹ Maria tôn kính thờ lạy Chúa không một thụ
tạo nào khác có thể so sánh. Đây là những điều làm cho Ngôi Lời Nhập Thể
hoan hỉ (Kn 8:31), mà Chúa ước ao và trông chờ nơi con cái loài người.
Đây là phần thưởng, mà trái tim đầy yêu thương của Chúa rút từ sự thánh
hóa vượt bực của Đức Trinh Mẫu Maria bù lại những đau buồn vì cách cư xử
tệ bạc con cái loài người gây ra.
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, Mẹ ước muốn con suy xét cẩn thận đặc ân biết về sự săn sóc,
quan tâm lo lắng Mẹ đã dành rất rộng rãi cho Con cực thánh hiền dịu nhất
của Mẹ trong các mầu nhiệm vừa mới được kể. Đấng Tối Cao ban cho con ánh
sáng đặc biệt hiểu biết các mầu nhiệm này không phải để con được thỏa
mãn, nhưng để con bắt chước Mẹ trong mọi sự như một nữ tì trung thành,
để con dâng lời cảm tạ về các kỳ công của Chúa theo cùng mức độ như con
được làm cho hiểu biết đầy đủ hơn. Con yêu quí, con hãy suy nghĩ về sự
đền đáp ít ỏi loài người đáp lại tình yêu của Chúa Con Mẹ, người ta vong
ân bội nghĩa chừng nào cho dù Chúa vẫn trung thành. Con phải coi đó là
nhiệm vụ, với hết khả năng hạn hẹp của con, dâng lên an ủi để đền bù sự
xúc phạm nặng nề này. Con hãy tận lực tận sức yêu mến, tạ ân, phụng sự
Chúa, để đền thay tất cả những kẻ không yêu mến, không tạ ân, không
phụng sự Chúa. Vì thế con phải là một thiên thần sốt mến, nồng nàn và
sẵn sàng trong mọi trường hợp. Con phải chết đi đối với mọi thứ ở đời,
loại bỏ, chà đạp mọi khuynh hướng loài người và với đôi cánh tình yêu
bay lên tới đỉnh cao yêu thương mà Thiên Chúa muốn cho con.
Con biết rõ những hiệu quả ngọt ngào tích chứa trong việc ghi nhớ mọi
điều Con chí thánh Mẹ đã làm. Con có thể lợi dụng ánh sáng được ban cho
con để biết ơn, để có thể lo sợ vì sự nguy hiểm của tội quên ơn. Mẹ đặc
biệt cho con biết các thánh trên trời, nhờ ơn Chúa cho hiểu các mầu
nhiệm này, đều ngạc nhiên đối với chính các ngài vì đã không chú ý nhiều
hơn tới những điều đó khi còn sống ở trần gian. Nếu các thánh còn có thể
chịu được đau đớn, hẳn các ngài hết sức buồn phiền vì sự chậm trễ cẩu
thả đã không đánh giá đúng mức những việc phải làm để được Ơn Cứu Độ, đã
không bắt chước Chúa Kitô. Do ơn hiểu biết thần linh, toàn thể các thần
thánh ngỡ ngàng vì sự ác độc của trái tim loài người đối với chính họ và
chống lại Chúa Kitô Đấng cứu độ họ. Loài người không có lòng thương xót
đối với các đau khổ của Chúa, cũng không có lòng xót thương đối với
những đau khổ chính họ phải chịu. Khi những kẻ biết trước bị luận phạt,
trong nỗi đắng cay bất tận, nhìn nhận sự vong ân bội bạc kinh khủng và
sự hững hờ đối với các việc làm của Chúa Kitô, sự bối rối tuyệt vọng sẽ
là hình phạt không chịu nổi, chỉ một điều đó thôi đã là hình phạt không
thể tưởng tượng; vì khi đó họ sẽ thấy sự cao cả của Ơn Cứu Chuộc mà họ
khinh thường (Tv 44:11).
Con của Mẹ, hãy nghe Mẹ, lắng nghe các lời khuyên và học thuyết sự sống
đời đời. Con hãy xua đuổi khỏi tâm trí con mọi hình ảnh và lòng quyến
luyến đối với loài người, hướng mọi khả năng trái tim, linh hồn con về
các mầu nhiệm và hồng ân Ơn Cứu Độ. Con hãy chỉ để tâm trí con bận bịu
cân nhắc giá trị, tạ ân vì các mầu nhiệm và hồng ân Ơn Cứu Độ như thể
chỉ một mình con hiện hữu, như thể những mầu nhiệm, các hồng ân đó chỉ
được thực hiện cho một mình con (Gal 2:20). Như vậy con sẽ tìm thấy cuộc
sống, cách sống, tiến hành như thế để con không lầm lẫn; nhưng con sẽ
tìm thấy ở đó ánh sáng cho mắt con và bình an đích thực.
CHƯƠNG 6
BA VUA
THỜ LẠY CHÚA HÀI ĐỒNG
Ba Vua, những người tìm đến thờ lạy Hài Nhi Thiên Chúa, là người Ba Tư,
Ả Rập và Sabba (Tv 71:10), ba quốc gia phía đông nước Palestine. Việc ba
vua tới thờ lạy Chúa Giáng Sinh đã được vua David đặc biệt tiên báo, và
trước đó do Balaam, ông này được Balaac, vua nước Moab, mướn để nguyền
rủa dân Do Thái, nhưng Balaam đã chúc lành thay vì nguyền rủa (Ds
24:17). Trong lời chúc lành này, Balaam nói ông sẽ gặp Đức Kitô Vua, mặc
dầu không phải trong đời ông. Balaam không nhìn thấy Chúa bằng chính mắt
ông, nhưng qua mắt ba vua, những người là miêu duệ ông nhiều thế hệ sau.
Balaam cũng nói một ngôi sao sẽ mọc lên cho nhà Jacob, ngôi sao đó là
Đức Kitô, Đấng lên thống trị nhà Jacob đến muôn muôn đời (Lc. 1:32).
Ngay khi từ Bethlehem đưa tin cho ba vua, các thiên thần cũng tạo ra
trên không trung một ngôi sao sáng chói để dẫn đường những người thánh
thiện này tới hang đá, nơi Chúa Hài Đồng chờ đợi các ông. Khi rời khỏi
cung điện, mỗi vị đều nhìn thấy ngôi sao mới (Mt. 2:2) mặc dầu mỗi người
từ địa phương khác nhau. Ngôi sao này được đặt trên độ cao thích hợp để
cả ba vị có thể nhìn thấy cùng một lúc. Được ngôi sao lạ dẫn đường, các
ngài đã sớm gặp nhau. Khi ba vua gặp nhau, ngôi sao lập tức xuống sát
gần, tỏa ánh sáng rực rỡ làm cho các ngài hoan hỉ. Ba vua trao đổi về
mạc khải riêng mỗi người nhận được và thấy các ngài có chung một mục
đích. Các ngài được thêm lòng tận hiến, khao khát sốt sắng thờ lạy Thiên
Chúa mới giáng sinh, dâng lời chúc tụng ca ngợi các kỳ công và mầu nhiệm
của Đấng Toàn Năng.
Chúa Hài Đồng trên tay Đức Hiền Mẫu thiên đàng đón nhận ba vua sốt mến
và tận hiến. Giữa những khiêm tốn khó nghèo nơi hang đá, trong vẻ khiêm
nhu nhưng diễm kiều khôn sánh, Mẹ Maria cùng lúc đó biểu lộ vẻ uy nghi
cao cả, ánh sáng thiên đàng rực sáng trên mặt Mẹ. Ánh sáng nơi Chúa Hài
Đồng còn rực rỡ hơn nữa, tỏa ra khắp hang đá ánh sáng huy hoàng chói
chang làm cho hang đá trở nên giống như thiên cung. Ba vua Phương Đông
đi vào hang đá, thoạt thấy Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu, lập tức họ bị
sự ngỡ ngàng lạ lùng tràn ngập. Ba vua quì phục trên đất, tôn kính thờ
lạy Chúa Hài Đồng, nhận Ngài là Thiên Chúa thực và người thực, là Đấng
Cứu Độ nhân loại. Quyền năng Thiên Chúa tác động linh hồn ba vua khi các
ông nhìn thấy Chúa. Ba vua thấy muôn vàn thiên thần phục vụ Vua trên hết
các vua, Chúa trên hết các chúa, với lòng tôn kính như những tôi tớ và
thừa tác viên. Chỗi dậy, ba vua chúc tụng Mẹ Maria, Đức Hiền Mẫu của Con
Thiên Chúa Cha hằng hữu, các ông tới quì trước mặt Mẹ Maria để kính chào
Mẹ. Ba vua tìm hôn tay Mẹ theo tập quán nước các ông đối với các hoàng
hậu hoặc nữ vương. Đức Hiền Mẫu Maria đã rút tay lại và, để thay vào đó,
Người đưa tay Chúa Cứu Thế ra và nói: “Thần trí tôi reo mừng trong Chúa,
linh hồn tôi chúc tụng và tôn vinh Ngài; vì giữa muôn dân Chúa đã gọi và
chọn quí vị cho ngưỡng vọng cùng nhìn thấy điều mà nhiều vua chúa và các
tiên tri đã khao khát nhưng không được thấy, đó là Ngôi Lời Thiên Chúa
nhập thể (Lc. 10:24). Chúng ta hãy tôn vinh chúc tụng Danh Ngài vì các
bí tích và mầu nhiệm được thi hành giữa dân Ngài; chúng ta hãy hôn đất
được thánh hoá do sự hiện diện đích thực của Ngài.”
Theo những lời này của Đức Maria rất thánh, ba vua phủ phục thờ lạy Chúa
Hài Đồng Giêsu, cảm tạ hồng ân vĩ đại được sống trong thời gian khi Mặt
Trời Công Chính mọc lên để soi sáng bóng đêm (Malaki 4:2). Kế đó ba vua
nói với thánh Giuse, chúc mừng ngài, ngợi khen hồng phúc cao cả ngài
được chọn làm phu quân Mẹ Thiên Chúa. Ba vua cũng bầy tỏ sự ngạc nhiên
cảm động vì sự nghèo nàn tột cùng, vẻ nghèo nàn đó che giấu những mầu
nhiệm vĩ đại nhất trên trời dưới đất. Sau ba tiếng đồng hồ triều kiến
thờ lạy chúc tụng, phái đoàn triều kiến xin phép Đức Hiền Mẫu Maria để
vào thành tìm nơi nghỉ. Có một số người tháp tùng ba vua, nhưng chỉ có
ba vua được ơn soi sáng và ân sủng từ cuộc thăm viếng này. Những người
khác chỉ nhìn thấy những gì bên ngoài, chỉ thấy hoàn cảnh thiếu thốn, bị
bỏ rơi của Đức Hiền Mẫu và phu quân. Mặc dầu bỡ ngỡ vì biến cố lạ lùng,
những người đó không thấy gì về mầu nhiệm này. Ba vua chào tạm biệt ra
đi, trong khi Mẹ Maria và thánh Giuse, lại được ở một mình với Chúa Hài
Đồng, đã vinh danh Đấng Chí Tôn bằng những lời chúc tụng mới, vì thánh
danh Chúa bắt đầu được các Dân Ngoại nhận biết thờ lạy (Tv 85:9).
Từ hang đá Giáng Sinh, ba vua tới một chỗ tạm trú trong thành Bethlehem.
Các ngài dành phần lớn đêm đó nói về những điều đã chứng kiến, những cảm
tưởng, lòng yêu mến trào lên trong mỗi vị, những điều riêng từng vị nhận
thấy nơi Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu. Trong buổi chuyện vãn này ba vua
càng lúc càng được bốc cháy lửa yêu mến linh thiêng, ngỡ ngàng vì sự uy
nghiêm cùng vẻ đẹp thánh thiêng của Chúa Hài Đồng Giêsu. Các ngài ngạc
nhiên vì sự khôn ngoan, khiêm tốn, dè dặt của Đức Hiền Mẫu, thán phục sự
thánh thiện của thánh phu quân Giuse, ngạc nhiên vì cảnh nghèo nàn của
Thánh Gia. Các ông ngỡ ngàng vì vẻ khiêm nhượng của nơi Chúa trời đất đã
muốn được sinh ra. Ba vị vua nhiệt thành yêu mến cảm thấy ngọn lửa thánh
thiêng bốc cháy trong trái tim. Không kềm chế được, các ông nói lên
những lời cảm thán của tình yêu ngọt ngào và lòng tôn kính lớn lao:
“Chúng tôi cảm thấy điều gì thế này? Phải chăng chính ảnh hưởng của Vị
Đại Vương này làm cho chúng tôi có được những ước vọng và lòng yêu mến
vĩ đại như thế này sao? Sau biến cố này, chúng ta sẽ nói chuyện với
người ta thế nào? Chúng ta có thể làm gì, chúng ta đã được chỉ dạy những
mầu nhiệm mới, huyền nhiệm và cao siêu như thế này? Ôi sự cao cả vĩ đại
của Đấng Toàn Năng không tỏ lộ cho nhân loại mà được giấu kín dưới sự
khó nghèo tột cùng như thế! Ôi sự khiêm nhượng loài người không thể nào
hình dung! Ước chi cả nhân loại được lôi cuốn đến với sự khiêm tốn, ngõ
hầu loài người không bị gạt ra khỏi niềm hạnh phúc vô biên!”
Trong những đàm thoại siêu nhiên này, các vị đạo sĩ nhớ tới cảnh cơ hàn
thiếu thốn cùng cực của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse nơi hang đá
đã quyết định lập tức dâng một ít lễ vật để tỏ lòng yêu mến và để thoả
lòng các ông muốn phụng sự Thánh Gia. Vì không làm được điều gì khác cho
Chúa Hài Đồng, Mẹ Maria và thánh Giuse, ba vua cho gia nhân dâng những
lễ vật các ông đã dành sẵn và những thứ khác các ông tìm được. Mẹ Maria
và thánh Giuse nhận những lễ vật này với lòng khiêm tốn biết ơn. Mẹ
Maria và thánh Giuse không phải chỉ đáp lại bằng những lời cám ơn suông,
mà bằng nhiều hồng ân có hiệu lực mãnh liệt an ủi tinh thần ba vua. Các
lễ vật này giúp Đức Nữ Vương cao cả của chúng ta chuẩn bị bữa tiệc lớn
đãi những người khách bình dân nghèo khó của Người. Những người thiếu
thốn đó thường tới thăm Mẹ Maria, được bố thí và được lôi kéo mạnh hơn
nữa bằng những lời ngọt ngào của Mẹ. Ba Vua chìm vào giấc ngủ với lòng
hoan lạc khôn sánh; và trong giấc ngủ, các thiên thần nói với các ông về
hành trình hồi hương (Mt 1: 9-12).
Bình minh hôm sau ba vua trở lại hang đá Giáng Sinh dâng lên Vua thiên
quốc những lễ vật đặc biệt. Khi tới nơi, các ngài lại phủ phục trong
niềm khiêm tốn thẳm sâu, mở các hộp quí châu ra, dâng lên Chúa vàng, nhũ
hương và mộc dược (Mt. 2:21). Ba vua xin Mẹ Maria chỉ dạy về nhiều mầu
nhiệm, các việc thực hành đức tin, về những vấn đề liên quan đến bổn
phận và cai quản đất nước. Các ngài ước nguyện trở về mà được chỉ dẫn
tường tận hầu có thể tiến tới sự thánh thiện trọn lành trong cuộc sống
hàng ngày. Mẹ Maria vui mừng khi nghe lời ba vua. Mẹ âm thầm trao đổi
với Chúa Hài Đồng về tất cả mọi điều ba vua hỏi, ngõ hầu trả lời, và chỉ
dạy cách thích đáng cho những người con này của Luật Mới. Với tư cách
Giáo Sư và là công cụ của sự khôn ngoan Thiên Chúa, Mẹ Maria trả lời tất
cả các câu hỏi, cho ba vua những giáo huấn cao quí về thánh hoá đến độ
ba vua khó lòng rời khỏi sự dịu dàng và sự lôi cuốn từ những lời Mẹ nói.
Những lời Mẹ Maria ảnh hưởng đến ba vua hết sức sâu xa vì do Chúa Thánh
Thần hướng dẫn và tràn đầy khôn ngoan. Một thiên thần Chúa hiện ra nhắc
các ông nhớ sự cần thiết của thánh ý Chúa là các ông phải trở lại quê
hương.
Đức Hiền Mẫu thiên đàng nhận các lễ vật của ba vua và nhân danh các ông
dâng các lễ vật đó lên Chúa Hài Đồng Giêsu. Chúa cho thấy những dấu chỉ
Chúa hài lòng nhận các lễ vật đó. Ba vua nhận thức được các ân sủng vô
cùng dồi dào mà Chúa trả lại gấp trăm (Mt. 19:29). Theo tập quán địa
phương của mình, các ông cũng dâng lên Mẹ Maria một vài viên ngọc giá
trị rất lớn; nhưng vì những lễ vật này không có ý nghĩa huyền nhiệm nào
và không chỉ về Chúa Giêsu nên Mẹ hoàn lại các lễ vật đó, chỉ giữ lại
các lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược. Để ba vua ra đi được hoan hỉ
hơn nữa, Mẹ Maria cho ba Vua một số vải khăn trong đó Mẹ đã bọc Chúa Hài
Đồng, vì Mẹ không có những bảo vật hữu hình nào quí giá hơn. Ba vua nhận
các thánh kỷ vật này với hết lòng tôn kính quí trọng; các ông cho bọc
các thánh kỷ này trong vàng và ngọc thạch để giữ mãi mãi về sau. Để làm
bằng chứng giá trị của mình, các thánh kỷ vật này toả ra mùi hương lạ
lùng. Tuy nhiên, chỉ những người tin tưởng việc Chúa đến thế gian mới
được ngửi hương thơm đó. Ở trong nước của mình, ba vua đã làm nhiều phép
lạ nhờ những thánh kỷ này.
Ba vị thánh vương cũng hiến dâng của cải khác lên Đức Hiền Mẫu, hoặc,
nếu Mẹ không muốn nhận những thứ đó mà muốn ở lại nơi này hơn, nơi Con
cực thánh của Người đã sinh ra, các ông sẽ dựng cho Người một ngôi nhà
tiện nghi hơn. Mẹ Maria cám ơn ba vua vì những hiến dâng, nhưng không
nhận các thứ đó. Khi từ biệt Đức Hiền Mẫu, ba vua xin Mẹ đừng quên họ;
Mẹ hứa và hoàn thành điều đó. Các ông cũng xin thánh Giuse như thế. Với
chúc lành của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse, các ngài lên đường mà
dường như đã để trái tim lưu lại nơi hang đá. Vì được thiên thần cho
biết trong đêm truớc, các ông trở về theo lộ trình khác để tránh gặp
Herode ở Jerusalem. Khi đoàn lữ hành ra khỏi Bethlehem, cũng ngôi sao lạ
đã dẫn đường tới Bethlehem lại xuất hiện dẫn các ông trở về quê hương
theo lộ trình khác, trở lại nơi gặp nhau lần đầu tiên, từ đó mỗi người
đi đường về nhà mình (Mt 1:18).
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, các lễ vật ba vua dâng lên Con cực thánh Mẹ đều quí giá,
nhưng lòng yêu mến khi dâng các lễ vật và sự huyền nhiệm tiềm ẩn sau các
lễ vật đó còn giá trị hơn. Vì những lý do này các lễ vật đó đáng được
Đấng Tối Cao chấp nhận nhất. Mẹ ao ước con cũng dâng những lễ vật tương
tự, cảm tạ ơn Chúa vì đã làm cho con nghèo khó theo điều kiện và lời
khấn. Con rất yêu quí của Mẹ, Mẹ hứa chắc với con rằng không có lễ vật
nào đáng được Đấng Tối Cao chấp nhận hơn sự nghèo khó tự nguyện. Trong
thời đại chúng ta, rất ít người sử dụng cách khôn ngoan các của cải tạm
bợ của họ, dâng những của cải đó lên Thiên Chúa với lòng đại lượng và
yêu mến như ba vua thánh này. Ngày nay, bản chất nhân loại đã trở nên ác
độc, tham lam quá độ, chai đá trước các thiếu thốn cùng cực của người
khó nghèo. Chúa Ngôi Ba và các thiên thần đau lòng chứng kiến sự cao quí
của các linh hồn bị làm cho mất phẩm giá vì họ phục vụ lòng tham lam
vàng bạc của cải và mọi quyền lực ác độc của nó (Gv 10:20). Những người
giầu có đã tước đoạt của người nghèo, chiếm lấy mọi thứ ở đời này cho
riêng mình. Họ không kể gì đến những người nghèo khó là anh em của họ,
được sinh ra cùng một bản chất và xương thịt. Họ cũng từ chối ngay cả
với Thiên Chúa, Đấng tạo dựng, gìn giữ mọi sự, và có thể cho hoặc lấy
lại tùy ý. Điều đáng than khóc nhất là trong khi những người giàu có có
thể mua được cuộc sống đời đời bằng tiền bạc, họ đã lạm dụng của cải vật
chất, chọn lấy cho mình án phạt đời đời chẳng khác gì những thụ tạo vô
linh tính điên khùng (Lc. 14:9).
Điều ác độc này phổ thông nơi con cái Adong, vì thế sự khó nghèo tự
nguyện là y dược tuyệt hảo và an toàn. Nhờ đức thanh bần làm cho người
ta sẵn sàng hoan hỉ từ bỏ sản nghiệp vì người nghèo khó, đó là của lễ
lớn lao được dâng hiến lên Thiên Chúa. Con cũng có thể hiến dâng như thế
đối với những thứ cần thiết cho việc nuôi sống con, chia một phần cho
người nghèo khó, nếu có thể con giúp họ bằng sức lao động và mồ hôi. Tuy
nhiên của lễ con hiến dâng không bao giờ gián đoạn phải là tình yêu:
tình yêu là vàng; cầu nguyện liên tục là nhũ hương; kiên trì chấp nhận
những lao khổ và thực sự hãm mình là mộc dược. Con hãy dâng lên Chúa mọi
điều con làm với tình yêu nồng nàn sốt sắng, không chút chểnh mảng hoặc
sợ sệt; vì những việc làm chểnh mảng, những việc làm không được ủ men
tình yêu không phải là của lễ đáng chấp nhận trước mắt Đấng Tối Cao. Để
làm cho các việc này trở thành của lễ hiến dâng không ngừng, điều cần
thiết là đức tin và ơn soi sáng của Chúa luôn luôn bốc cháy trong trái
tim con, có trước mắt con mục tiêu vĩ đại của lời chúc tụng tôn vinh và
tác dụng của tình yêu mà nhờ đó con được cột chặt vào Đấng Tối Cao. Con
cần phải liên tục thực hành việc yêu mến ngọt ngào này. Điều này rất
thích hợp cho các người yêu dấu của Đấng Tối Cao; vì tên những người đó
ngụ ý việc liên tục trả nợ tình yêu và lòng thương mến của Ngài.
CHƯƠNG 7
MẸ MARIA
DÂNG CHÚA HÀI ĐỒNG TRONG ĐỀN THỜ.
Nhân tính cực thánh của Chúa Kitô thuộc về Thiên Chúa Cha hằng hữu không
những chỉ vì nhân tính đó được tạo dựng như mọi người, mà vì (nhân tính)
đó là sở hữu đặc biệt của Chúa do việc kết hợp nhân tính với Ngôi Lời
Thiên Chúa, vì Ngôi Lời Thiên Chúa, Con Một Thiên Chúa, Đấng mang bản
tính này, là Thiên Chúa thực bởi Thiên Chúa thực. Thiên Chúa Cha hằng
hữu đã ấn định Con Một Ngài phải được hiến dâng trong đền thờ âm thầm
chu toàn lề luật, mà theo đó Chúa Cứu Thế là người cuối cùng thi hành
luật hiến dâng (Rom 10:4). Luật hiến dâng này được đặt ra không có mục
đích nào khác hơn là các người công chính thời Cựu Ước phải thánh hóa
thường xuyên và dâng hiến cho Thiên Chúa con trai đầu lòng của họ, với
hy vọng người con được dâng hiến như thế có thể được chứng minh là Con
Thiên Chúa và Con Đức Hiền Mẫu Chúa Cứu Thế muôn dân trông đợi (Xh
13:2).
Thánh ý Thiên Chúa Cha, hợp với thánh ý Chúa Con, được thông báo cho Đức
Hiền Mẫu đời sống và bản chất loài người của Ngôi Lời. Mẹ Maria thấy mọi
hành động bề trong của Chúa Kitô hiệp nhất với thánh ý Thiên Chúa Cha.
Mẹ đã dành cả đêm trước ngày hiến dâng Chúa Hài Đồng trong đền thờ để
nói chuyện với Thiên Chúa. Mẹ nói với Thiên Chúa Cha: “Lạy Chúa và Thiên
Chúa Tối Cao, Cha của Chúa của con, ngày vui mừng cho trời đất sẽ là
ngày con dâng lên Chúa trong đền thờ Bánh Thánh hằng sống, đồng thời
cũng là Kho Tàng của Chúa. Lạy Chúa và Thiên Chúa của con, việc hiến
dâng này giàu sang biết chừng nào, để đổi lại, Chúa sẽ đổ tràn lòng
thương xót xuống cho nhân loại. Xin Chúa tha thứ kẻ tội lỗi, an ủi người
đau khổ, giúp đỡ người khó nghèo, cho kẻ bần hàn được phú túc, cứu giúp
người yếu đuối, soi sáng kẻ mù lòa, đón tiếp người lạc đường. Lạy Chúa,
đây là điều con xin khi dâng lên Chúa Con Một yêu dấu của Chúa, Đấng mà
do lòng thương xót của Chúa cũng là Con của con. Nếu Chúa ban Chúa Con
cho con là Thiên Chúa, con trả lại Chúa Hài Đồng cho Chúa là Thiên Chúa
và người trần gian, giá trị của Ngài vô cùng, và những điều con xin thì
kém nhiều. Trong sự giàu có, con trở lại đền thờ Chúa mà con đã tự do ra
đi trong khó nghèo, linh hồn con sẽ chúc tụng Chúa đến muôn đời, vì Chúa
đã ban cho con quá sức đại lượng.”
Bình minh hôm sau, Mặt Trời thiên đàng sẵn sàng hiện ra từ Hừng Đông
trinh khiết nhất là Đức Trinh Mẫu Maria. Chúa Hài Đồng nằm trong cánh
tay Mẹ, sắp sửa xuất hiện rõ ràng giữa thế gian. Đức Nữ Vương thiên
đàng, đã chuẩn bị sẵn đôi chim gáy và hai cây nến, bọc Chúa Hài Đồng
trong khăn, đi cùng với thánh Giuse tới đền thờ. Các thiên thần tháp
tùng Thánh Gia, lần nữa đạo binh thiên quốc hiện ra rõ ràng, sóng hàng
rất đẹp như trong hành trình từ Nazareth tới Bethlehem. Trong dịp này
các thiên thần thêm nhiều ca khúc du dương tuyệt vời chúc tụng Chúa Hài
Đồng. Không kể muôn ngàn thiên thần tạo thành đoàn diễn hành, vô số
thiên thần khác từ trời xuống cùng với các thiên thần mang khiên có khắc
Tên Cực Thánh GIÊSU hợp thành đoàn quân danh dự hộ vệ Ngôi Lời nhập thể
trong dịp dâng hiến trong đền thờ. Tới cổng đền thờ, Mẹ Maria lại ngút
lửa yêu mến tận hiến nồng nàn. Cùng với các phụ nữ khác, Mẹ quì gối cúi
đầu thờ lạy Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Mẹ Maria, cùng với
Con cực thánh trong tay, trình diện trước Thiên Chúa Uy Nghi cao cả
(Gioan 4:23). Lập tức Mẹ Maria ngây ngất trong thị kiến và nghe tiếng
Thiên Chúa Cha phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết sức hài lòng vì
Con” (Mt 27:20). Thánh Giuse, người được hạnh phúc nhất trong mọi nam
nhân, cùng lúc đó cũng cảm nghiệm sự ngọt ngào mới, niềm hân hoan và ơn
soi sáng Chúa Thánh Thần đổ đầy tâm hồn ngài.
Thầy cả thượng phẩm thánh thiện Simeon, được Chúa Thánh Thần soi dẫn,
lúc đó cũng đi vào đền thờ (Lc 2:7). Ngài thấy Mẹ Maria và Chúa Hài Đồng
trong hào quang rực rỡ. Nữ tiên tri Anna cũng tới; bà thấy Mẹ Maria và
Chúa Hài Đồng được bao phủ trong ánh sáng lạ lùng. Hết sức vui mừng,
thầy cả thượng phẩm đón Chúa Hài Đồng từ tay Mẹ Maria. Nhìn lên trời,
ngài dâng Chúa Hài Đồng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu, đồng thời nói lên
lời huyền nhiệm: “Lạy Chúa, bây giờ xin cho tôi tớ Chúa ra đi bằng an
theo lời Chúa hứa. Chính mắt con đã nhìn thấy Ơn Cứu Độ đã được Chúa
chuẩn bị trước mặt muôn dân: ánh sáng cứu độ các dân ngoại và vinh quang
Israel dân Chúa” (Lc 2:29). Nghe những lời ca tụng này, Đức Hiền Mẫu
Maria và thánh Giuse bỡ ngỡ vì mạc khải cao siêu chứa đựng trong đó.
Thánh Sử nói Cha Mẹ của Hài Nhi bỡ ngỡ vì những lời đó nói ra trước mặt
mọi người hiện diện tại biến cố này. Tiên tri Simeon nói tiếp: “Con Trẻ
Này được đặt làm cớ để nhiều người vấp phạm và cho việc phục sinh của
nhiều người trong dân Israel, và là dấu bị chống báng. Một lưỡi gươm bén
sẽ xuyên thấu tâm hồn bà, để những tư tưởng thầm kín của nhiều con tim
sẽ bị phơi bày ra ánh sáng” (Lc 2:33-35). Thánh Simeon, vì là thầy cả,
đã chúc lành cho Cha Mẹ hạnh phúc của Chúa Hài Đồng. Khi đó nữ tiên tri
Anna, được ơn Chúa Thánh Thần, cũng nhìn nhận Ngôi Lời nhập thể và nói
về các mầu nhiệm Chúa Cứu Thế với nhiều người, những người đang trông
chờ ơn cứu độ dân Israel (Lc 2:36-38). Hai tiên tri lão thành Simeon và
Anna đã công khai làm chứng về Chúa Cứu Thế trước thế giới.
Chúa Hài Đồng gật đầu khi tiên tri Simeon nói đến lưỡi gươm và dấu chỉ
của sự chống báng: những lời tiên tri về khổ hình và cái chết của Chúa
Cứu Thế (Lc 2:35). Do việc đó và nhiều hành động vâng lời thầm kín, Chúa
Giêsu đã phê chuẩn lời tiên tri của thượng tế Simeon, chấp nhận đó như
là lời Thiên Chúa Cha phán được thừa sứ của Ngài loan báo. Mẹ Maria ghi
nhận và hiểu mọi điều này (Lc 3:51b). Ngay lúc này Mẹ Maria cảm thấy bị
thương tích do lưỡi gươm được tiên báo. Như trong một tấm gương, linh
hồn Mẹ Maria thấy mọi mầu nhiệm gồm trong lời tiên tri này: Con cực
thánh của Mẹ sẽ là nguyên cớ khiến nhiều người vấp phạm như thế nào, sự
trầm luân của những kẻ không tin, Ơn Cứu Độ cho những người tín trung,
việc thiết lập Giáo Hội giữa các dân ngoại. Mẹ Maria nhìn thấy trước
cuộc khải hoàn vinh thắng chống lại ma quỉ và sự chết, nhưng Mẹ cũng
thấy trước giá phải trả cho cuộc khải hoàn đó, như sự phiền sầu khủng
khiếp và chết trên thập giá (Col 2:15). Mẹ Maria nhìn thấy trước những
chống đối thù nghịch Chúa Giêsu sẽ phải chịu nơi bản thân Chúa và Giáo
Hội (Gioan 15:20). Đồng thời Mẹ Maria cũng thấy sự vinh quang tuyệt vời
của các linh hồn được tiền định. Mẹ biết tất cả những điều này và, được
khơi dậy do những lời ông Simeon tiên tri cùng các mầu nhiệm tiềm ẩn, Mẹ
đã thực thi nhiều hành động nhân đức anh hùng trong niềm vui nỗi buồn
của linh hồn cực trinh khiết. Tất cả mọi lời nói và các sự việc xảy ra
đều được ghi khắc trong trí nhớ Mẹ Maria không khi nào phai (Lc 2:51b).
Mẹ Maria luôn nhìn Con cực thánh với lòng ưu phiền sinh động, mà chúng
ta, những con người với trái tim vong ân bội nghĩa, sẽ không bao giờ có
thể cảm hiểu được. Thánh phu quân Giuse cũng được những lời tiên tri này
làm cho hiểu nhiều trong số các mầu nhiệm Ơn Cứu Chuộc và những vất vả
thống khổ Chúa Giêsu sẽ phải chịu. Nhưng Thiên Chúa không tiết lộ các
mầu nhiệm này cho thánh Giuse tường tận, vì đối với ngài các mạc khải
này phục vụ mục đích khác, hơn nữa, thánh nhân không được là chứng nhân
các mầu nhiệm này khi còn ở trần thế.
Nghi lễ hiến dâng đã hoàn tất, Đức Maria hôn tay thầy thượng tế và xin
ngài chúc lành. Mẹ Maria cũng thi hành như thế đối với tiên tri Anna,
thầy cũ của Mẹ. Địa vị Mẹ Thiên Chúa, địa vị tột đỉnh đối với các thiên
thần và cả loài người, không cản trở Mẹ thực thi các hành động khiêm tốn
này. Rồi cùng với thánh phu quân và đạo binh thiên quốc sóng hàng hộ vệ,
Mẹ Maria và Chúa Hài Đồng trở lại nơi tạm trú. Mẹ Maria và thánh Giuse
quyết định nán lại Jerusalem chín ngày để có thể mỗi ngày viếng đền thờ
hầu lặp lại lời hiến dâng Nạn Nhân Thánh, Con Thiên Chúa của Mẹ, để như
thế, dâng lên lời cảm tạ xứng đáng vì hồng ân bao la mà nhờ đó Mẹ và
thánh phu quân đã được tách rời khỏi loài người. Đức Hiền Mẫu Maria đặc
biệt quí con số chín này, vì trong chín ngày Mẹ Maria đã được Thiên Chúa
chuẩn bị trang điểm cho việc nhập thể của Ngôi Lời, và cũng ghi nhớ chín
tháng cưu mang Chúa Giêsu nơi lòng dạ trinh khiết Mẹ. Chúa Giêsu, Mẹ
Maria và thánh Giuse khởi sự việc tận hiến tuần chín ngày, mỗi ngày từ
trước giờ thứ ba (khoảng sáu giờ sáng), cầu nguyện trong đền thờ cho tới
khi trời tối. Thánh Gia chọn một nơi khuất yên tĩnh nhất, như thế xứng
đáng với lời mời của vị chủ tiệc trong Phúc Âm: “Hỡi bạn, hãy lên ngồi
ghế cao hơn” (Lc 14:10b).
Để đáp lời cầu xin của Đức Maria, Thiên Chúa ban cho Mẹ nhiều đặc ân vĩ
đại mới, trong đó có đặc ân, bao lâu thế giới này còn tồn tại, Mẹ Maria
sẽ được tất cả mọi điều Mẹ xin cho những ai nhờ (xin) Mẹ cầu bầu cho.
Những người tội lỗi nặng nề nhất sẽ tìm được Ơn Cứu Độ, nếu họ xứng đáng
với lời Mẹ cầu bầu. Trong Giáo Hội mới và Luật Phúc Âm, Mẹ Maria sẽ là
Đấng Đồng Công, là Thầy dạy về Ơn Cứu Chuộc cùng với Chúa Kitô Con cực
thánh Mẹ. Đây sẽ là đặc ân dành cho Mẹ Maria đặc biệt là sau khi Chúa về
trời. Khi còn ở lại trần gian, Mẹ Maria là Nữ Vương vũ trụ, Đại Diện,
Máng Chuyên mọi quyền năng Thiên Chúa nơi trần thế.
Ngày thứ năm của tuần chín ngày, khi Mẹ Maria ở trong đền thờ, ẵm Chúa
Hài Đồng trong tay, Thiên Chúa hiện ra với Mẹ, mặc dầu không phải trực
diện, Mẹ Maria được nâng lên và đầy ơn Chúa Thánh Thần. Trong thị kiến
không trực diện này, Đấng Tối Cao thăm viếng, chuẩn bị Mẹ Maria chịu
đựng những gian khổ cực nhọc đang chờ đợi. Thiên Chúa nói: “Người Yêu
Dấu và Chim Bồ Câu của Ta, các ước nguyện và ý muốn của Người đẹp ý Ta,
Ta luôn hài lòng vì những điều đó. Nhưng Người không thể hoàn tất chín
ngày tận hiến đã bắt đầu, vì Ta có sẵn những việc khác cho tình yêu của
Người. Để bảo vệ mạng sống và nuôi dưỡng Thánh Nhi trưởng thành, Người
phải rời khỏi nhà và quê hương, cùng với Thánh Nhi và phu quân Giuse
chạy trốn sang Ai Cập và ở đó cho tới khi Ta chỉ dạy cách khác vì Herode
đang tìm giết Thánh Nhi (Mt 1:13-14) Cuộc hành trình lâu ngày vất vả mệt
nhọc nhất, Người hãy chịu những thứ đó vì Ta. Ta luôn ở với Người.”
Bất cứ đức tin và lòng can đảm nào chắc chắn cũng đã bị làm cho bối rối
xáo trộn khi thấy Thiên Chúa toàn năng chạy trốn một thụ tạo bằng đất
khốn nạn, mà Thiên Chúa phải làm như thế để cứu mạng sống mình, chẳng
khác gì Chúa, Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là người, có thể sợ chết. Nhưng
Đức Maria đã vâng phục không chút chống đối hoặc hoài nghi. Không chút
bối rối nao núng vì lệnh truyền bất ngờ này, Mẹ đáp: “Lạy Thiên Chúa và
Chúa của con, xin hãy nhìn nữ tì của Chúa với trái tim được chuẩn bị sẵn
sàng chết vì yêu Chúa. Xin hãy phân định cho con theo thánh ý Chúa. Con
chỉ xin Chúa vì lòng nhân từ vô cùng mà bỏ qua sự không xứng đáng và bạc
bẽo của con. Xin Chúa đừng để cho Con và Chúa của con phải đau khổ. Xin
Chúa trút mọi đau đớn vất vả lên con.” Thiên Chúa nói với Mẹ Maria về
thánh Giuse, truyền cho Người nghe theo các chỉ dẫn của thánh nhân trong
mọi sự liên quan đến cuộc hành trình. Tới đây Mẹ Maria ra khỏi thị kiến
mà không mất đi việc sử dụng các giác quan ngoại tại trong khi vẫn ẵm
Chúa Hài Đồng. Chỉ có phần thượng của linh hồn Mẹ Maria được đưa lên
trong thị kiến này. Nhưng từ đó chảy tràn đầy ân sủng thánh hóa các quan
năng và cho biết linh hồn Mẹ sống nhiều trong tình yêu hơn là nơi thân
xác.
Do tình yêu khôn sánh Mẹ Maria dành cho Con cực thánh, trái tim hiền mẫu
hết sức đau đớn vì nghĩ đến những vất vả nhìn thấy trước trong thị kiến
đang đe dọa Chúa Hài Đồng. Nước mắt chan hoà, Mẹ Maria rời khỏi đền thờ
trở về nơi tạm trú mà không nói cho thánh phu quân biết lý do sự đau
buồn. Thánh Giuse nghĩ Mẹ Maria đau buồn vì lời ông Simêon tiên tri. Vì
thánh Giuse trung tín yêu thương, hết lòng lo lắng cho Mẹ Maria, ngài
bối rối khi thấy Mẹ nước mắt chan hòa quá sức đau buồn nhưng lại không
nói cho ngài biết nguyên cớ. Sự bối rối của linh hồn thánh Giuse là một
trong những lý do để các thiên thần nói với ngài đang khi ngủ, tương tự
khi nói về việc thai nghén của Đức Nữ Vương thiên đàng. Cũng đêm đó, khi
thánh Giuse đang ngủ, thiên thần Chúa hiện ra nói với ngài như thánh
Mátthêu ghi lại: “Hãy chỗi dậy, đưa Con Trẻ và Mẹ Ngài trốn sang Ai Cập,
và ở lại đó cho tới khi tôi trở lại cho biết lời chỉ dạy khác; vì Herode
đang tìm giết Con Trẻ” (Mt 1:13-14).
Thánh Giuse lập tức chỗi dậy trong lo âu buồn rầu, ngài cũng đoán được
sự đau khổ lo âu của hiền thê hết sức yêu quí. Đi vào phòng Mẹ Maria,
thánh Giuse nói: “Thưa Bà Chủ của tôi, Chúa muốn chúng ta chịu đau khổ.
Thiên thần Chúa báo cho tôi biết sự vui lòng và quyết định của Đấng Toàn
Năng muốn chúng ta chỗi dậy đem Chúa Hài Đồng trốn sang Ai Cập vì Herode
đang tìm giết Chúa. Bà Chủ của tôi, xin Người can đảm chịu đựng những
gian khổ trong cuộc hành trình này, xin cho tôi biết tôi có thể làm gì
để Người bớt cực khổ, vì tôi chỉ sống để phục vụ Con của Người và chính
Người.”
Mẹ Maria đáp: “Thưa phu quân và chủ nhân của thiếp, chúng ta đã nhận
được từ tay Đấng Tối Cao các ân sủng cao cả, và điều chính đáng là chúng
ta vui vẻ chấp nhận những đau khổ tạm bợ (Gióp 2:13) Chúa gởi cho. Chúng
ta đưa đi với chúng ta Đấng tạo thành trời đất, nếu Chúa để chúng ta ở
sát bên Ngài thì quyền lực nào có thể làm hại chúng ta, cho dù là quyền
lực của Herode?
Chúng ta đưa đi với chúng ta tới bất cứ nơi nào Đấng cực tốt lành, Đấng
là kho tàng thiên đàng tối cao, Chúa chúng ta, là Người Dẫn Đường và Ánh
Sáng của chúng ta thì không nơi nào có thể là hoang địa được. Chúa chính
là nơi chúng ta nghỉ ngơi, phần phúc và quê hương chúng ta. Chúng ta có
mọi sự tốt lành khi có Chúa đồng hành, chúng ta hãy tiến hành để chu
toàn thánh ý Chúa.” Mẹ Maria và thánh Giuse đến bên nôi Chúa Hài Đồng.
Đức Hiền Mẫu mở mền đắp cho Chúa ra mà không làm Chúa thức giấc; rồi Mẹ
Maria, quì gối, đánh thức và ẵm Chúa lên. Chúa Hài Đồng, để làm cho Mẹ
Maria tiến tới tình yêu vĩ đại hơn nữa và để tỏ ra Chúa là người thực,
đã khóc lên một chút (Kỳ diệu thay Đấng Tối Cao trong những điều mà đối
với sự suy xét của chúng ta cho là qúa nhỏ bé)! Nhưng Chúa Hài Đồng đã
sớm nín khóc, khi Đức Hiền Mẫu rất thánh và thánh Giuse xin Chúa chúc
lành, Chúa đã cho Hai Đấng thấy cử chỉ rõ ràng. Sau khi gom hết các hành
trang nghèo nàn vào một cái giỏ và chất lên lưng con lừa được đem theo
từ Nazareth, Thánh Gia ra đi lúc sau nửa đêm một chút.
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, điều đặc biệt con phải học trong chương này là làm quen với
việc khiêm nhượng tạ ân về các hồng ân con nhận được. Trong nhiều thế
hệ, con được ưu ái quá sức đặc biệt bằng những ân sủng dồi dào do việc
Con của Mẹ và Mẹ đến thăm mà không vì một chút xứng đáng nào của con. Mẹ
đã thường lặp lại nhiều lần lời vua David: “Con sẽ dâng gì lên Chúa để
đền đáp tất cả những ơn Chúa đã ban cho con?” (Tv 15:12). Với những ý
nghĩ như thế Mẹ đã hạ mình thành bụi đất, coi mình hoàn toàn vô dụng
giữa mọi tạo vật. Nếu con biết Mẹ đã làm những gì với tư cách là Mẹ
Thiên Chúa, con hãy suy xét xem con phải làm gì và với hết lòng chân
thành con thú nhận rằng con không xứng đáng với những ơn đã được, con đã
dâng những lời cảm tạ đền đáp quá sức nghèo nàn. Con phải bù đắp sự bất
toàn nghèo nàn của con bằng việc dâng lên Thiên Chúa Cha hằng hữu bánh
hằng sống là Con Một yêu dấu của Ngài, nhất là khi con rước Chúa Giêsu
trong Phép Thánh Thể và Chúa ở trong con. Trong trường hợp này, con phải
bắt chước lời thánh David, sau khi ông hỏi Chúa ông phải dâng lại gì để
đền đáp các hồng ân Chúa ban: “Con sẽ uống chén cứu độ, và con sẽ kêu
thánh danh Chúa” (Tv 115:13). Con phải nhận ơn cứu độ, làm cho nở sinh
hoa trái bằng sự trọn lành của các việc con làm, kêu cầu Thánh Danh
Chúa, dâng lên Chúa Cha Con Một yêu dấu của Ngài. Vì Chúa Cứu Thế chính
là Đấng ban ơn cứu độ, Đấng giành được ơn đó, Đấng mà chỉ một mình Ngài
có thể là sự dâng trả lại xứng đáng đối với những ân sủng được ban cho
loài người, đặc biệt là cho con. Mẹ đã cho Chúa thân xác để có thể đối
thoại với loài người, trở nên tài sản riêng của từng người. Chúa Giêsu
ẩn mình dưới hình bánh và rượu để thích hợp với nhu cầu từng người, để
mọi người có thể coi Chúa là của riêng mình, thích hợp để dâng lên Thiên
Chúa Cha hằng hữu. Theo cách này, Chúa Giêsu ban cho từng người lễ vật
dâng hiến mà không một ai có thể dâng thứ khác được, và Đấng Tối Cao hài
lòng với của lễ hiến dâng đó, vì không thứ gì đáng được chấp nhận hơn,
cũng không thứ gì quí giá hơn mà nhân loại có thể có được.
Thêm vào với hiến lễ này là sự hoàn toàn ký thác và nhẫn nại bình tĩnh
chịu đựng những vất vả khó khăn trong cuộc sống đời này. Con chí thánh
Mẹ và Mẹ là những Thầy vĩ đại dạy việc thi hành giáo lý này. Con của Mẹ
bắt đầu giảng dạy giáo lý: ký thác chịu đựng vất vả đau khổ từ khi bẩm
thai trong lòng Mẹ. Ngay từ ngày đó, Chúa bắt đầu chịu đau khổ. Khi sinh
xuống trần gian, Chúa Giêsu và Mẹ đã bị Herode xua đuổi chạy vào sa mạc,
và Chúa cứ tiếp tục chịu mọi đau khổ cho tới khi chết trên thánh giá. Mẹ
cũng đã vất vả cho tới ngày cuối đời, như con sẽ được cho biết ngày càng
nhiều khi viết lịch sử này. Chúa Giêsu và Mẹ đã chịu đau khổ quá sức vì
loài người để cứu độ họ. Mẹ muốn con bắt chước Chúa Giêsu và Mẹ thi hành
thánh ý Chúa với tư cách người yêu dấu của Ngài và là con gái Mẹ. Con
hãy chịu đau khổ với trái tim đại lượng để đem về cho Chúa và Phu Quân
của con các linh hồn vô cùng quí báu, được chuộc bằng chính máu Chúa.
Con không bao giờ được trốn chạy những vất vả, khó khăn, cay đắng và đau
khổ, nếu nhờ đó con giành được một linh hồn cho Chúa, hoặc nếu có thể
khuyên được linh hồ đó từ bỏ đường tội lỗi mà đi vào con đường sự sống.
Đừng để cho con bị quá vô dụng nghèo nàn, hoặc các ước vọng và vất vả
của con đem lại ích lợi quá ít ỏi khiến con nản lòng. Con không thể biết
Chúa sẽ chấp nhận những việc đó như thế nào và Chúa cho rằng Người được
phục vụ chừng nào. Ít nhất con hãy ước ao làm việc chuyên cần và không
ăn bánh mà không xứng công ở trong nhà Chúa (Cn 31:27).
CHƯƠNG 8
HÀNH
TRÌNH TRỐN SANG AI CẬP
Giữa đêm khuya, các Vị Lữ Khách thiên quốc rời khỏi Jerusalem dấn
(rấn) bước lưu vong trong âm thầm tăm tối. Mẹ Maria và thánh Giuse lo
lắng ngập lòng vì các Ngài đưa Kho Tàng thiên quốc đi vào miền đất lạ.
Chính Chúa cho Mẹ và thánh dưỡng phụ cơ hội lo lắng để củng cố sức mạnh
cho các ngài bằng đức tin và trông cậy. Mẹ Maria và thánh dưỡng phụ
không biết những gì sẽ xảy ra suốt hành trình, cũng không biết khi nào
chấm dứt. Các ngài cũng không biết làm cách nào sinh sống tại Ai Cập,
nơi hoàn toàn xa lạ, cũng không biết có thể tìm được những tiện nghi gì
tại đó để dưỡng nuôi Chúa Hài Đồng. Cấp thời nhất là Mẹ Maria và thánh
Giuse không biết làm cách nào tránh cho Chúa Sơ Sinh những khổ cực tột
độ dọc đường. Trái tim Mẹ và thánh dưỡng phụ đầy lo âu khắc khoải khi
Thánh Gia từ nơi tạm trú vội vã ra đi. Nhưng nỗi đau buồn của Mẹ Maria
và thánh Giuse được giảm nhẹ nhiều khi các thiên thần hộ vệ lại hiện ra
với muôn vẻ rạng rỡ oai hùng biến bóng đêm thành ngày rực rỡ nhất cho
các Vị Lữ Khách. Khi Thánh Gia rời khỏi cổng thành, các thiên thần sấp
mình thờ lạy Ngôi Lời nhập thể trên cánh tay Đức Trinh Mẫu. Các thiên
thần cũng khuyến khích Đức Hiền Mẫu, và cho biết thánh ý Thiên Chúa muốn
các ngài hướng dẫn và hộ vệ Mẹ suốt hành trình.
Thánh Gia lưu lại thị trấn Gaza hai ngày; thánh Giuse và con lừa đỡ chân
Mẹ đều mệt nhoài. Từ đây Mẹ Maria và thánh Giuse để người nô bộc của
thánh Elisabeth trở về, căn dặn anh ta không được nói cho bất cứ ai biết
Thánh Gia ở đâu. Nhưng Thiên Chúa còn dự liệu cẩn thận hơn chống lại mối
nguy hiểm này, đã làm cho anh ta không nhớ chút gì về những điều thánh
Giuse căn dặn phải giữ kín, do đó anh ta chỉ còn nhớ lời Mẹ Maria nhắn
gởi bà Elisabeth. Đức Maria phân phát cho người nghèo khó các quà tặng
do bà Elisabeth gởi tới. Mẹ dùng vải bà Elisabeth tặng để may áo choàng
mặc ấm cho Chúa và thánh Giuse chống những rét lạnh của thời tiết khắc
nghiệt trong cuộc hành trình. Mẹ cũng dùng những thứ khác thuộc sở hữu
của Thánh Gia để làm cho Chúa Hài Đồng và thánh dưỡng phụ bớt cơ cực.
Đức Trinh Mẫu không ỷ vào trợ giúp phép lạ khi nào Người có thể chu tất
các nhu cầu hàng ngày bằng sự cần cù lao động, vì trong những vấn đề này
Người muốn tuân theo trật tự tự nhiên và nỗ lực của chính mình. Trong
hai ngày lưu lại thị trấn Gaza, Mẹ Maria đã thực hiện một vài việc kỳ
diệu để ban muôn ơn phước cho thị trấn này. Mẹ cứu hai người khỏi chết,
chữa nhiều người khỏi bệnh tật đau đớn. Mẹ làm cho một phụ nữ tứ chi bất
toại sử dụng được tay chân như bình thường. Mẹ ban ơn siêu nhiên nhận
biết Thiên Chúa, ơn thay đổi cuộc sống cho nhiều người gặp và nói chuyện
với Mẹ. Tất cả những người này cảm thấy họ được thúc đẩy chúc tụng Đấng
Tạo Hoá.
Đến ngày thứ ba, các Vị Lữ Khách của chúng ta rời khỏi thị trấn Gaza đi
Ai Cập. Ngay sau khi rời khỏi xứ Palestine, Thánh Gia vượt qua sáu mươi
dặm trên sa mạc Bersabe để tới ngụ cư tại Heliopolis, ngày nay là Cairo,
Ai Cập. Hành trình băng sa mạc mất nhiều ngày, vì mỗi ngày Thánh Gia chỉ
đi được một đoạn đường rất ngắn, không những chỉ vì bước đi cực khổ trên
bãi cát lún sâu, mà cũng vì khổ cực do thời tiết khắc nghiệt mà không có
chỗ trú ẩn. Để hiểu Mẹ Maria thánh Giuse và Chúa Hài Đồng chịu khổ cực
chừng nào trong chuyến đi này, cần phải nhớ rằng Đấng Toàn Năng để cho
Con Một vô cùng yêu dấu, cùng với Đức Hiền Mẫu và thánh dưỡng phụ phải
chịu mọi thiếu thốn gian khổ đương nhiên xảy ra khi đi qua sa mạc. Suốt
hành trình qua sa mạc, Thánh Gia chỉ có vòm trời, gió lộng, làm nơi trú
qua đêm; hơn nữa, lúc đó là giữa mùa đông. Trong đêm thứ nhất nơi sa mạc
toàn cát này, Thánh Gia nghỉ dưới chân một đồi cát nhỏ, nơi trú ẩn duy
nhất Thánh Gia có thể tìm được. Đức Hiền Mẫu bồng Chúa Hài Đồng ngồi
ngay trên bãi cát, ăn chút thực phẩm cùng với thánh phu quân. Mẹ Maria
cũng cho Chúa Hài Đồng bú. Chúa Hài Đồng đã làm cho Đức Hiền Mẫu và
thánh dưỡng phụ hoan hỉ bằng việc tỏ ra sự hài lòng của Chúa. Để cung
cấp cho Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu Maria thứ gì che sương gió, dù nhỏ
bé khiêm tốn, thánh Giuse làm cái lều bằng chính áo choàng của ngài và
vài cái que (gậy nhỏ, ngài đem theo) chống làm khung. Trong đêm đó, muôn
ngàn thiên thần đã tạo thành hàng rào bảo vệ chung quanh Đức Vua và Đức
Nữ Vương. Mẹ Maria thấy Con Thiên Chúa của Mẹ dâng lên Thiên Chúa Cha
hằng hữu những khổ cực vất vả của chính Chúa, của Mẹ và thánh Giuse. Gần
suốt đêm đó Mẹ Maria kết hợp trong lời cầu nguyện và các hành động khác
của linh hồn cực thánh Chúa. Chúa Hài Đồng ngủ một chút trong cánh tay
Mẹ, nhưng Mẹ Maria vẫn thức nói chuyện với Đấng Tối Cao và các thiên
thần. Thánh Giuse ngồi ngủ trên cát, đầu gục xuống ngực, trước ngực ngài
đeo túi y trang và các vật dụng khác.
Thánh Gia giong ruổi hành trình. Số trái cây, bánh và nước dự trữ ít ỏi
đã sớm hết; Thánh Gia phải chịu thiếu thốn đói khát cùng cực. Cả Mẹ
Maria và thánh Giuse đều cảm thấy tình trạng thiếu thốn này rất trầm
trọng. Một trong những ngày đầu hành trình, các ngài không ăn uống chút
gì cho tới khuya. Ít ngày sau, những thực phẩm sơ sài thanh đạm nhất
cũng không còn. Bản chất tự nhiên đòi phải có chút gì giải khát sau
những gian khổ mỏi mệt của chuyến đi. Vì không có cách nào tiếp tế nhu
cầu của Thánh Gia bằng phương tiện tự nhiên, Đức Nữ Vương thiên đàng cầu
cứu Đấng Tối Cao: “Lạy Thiên Chúa hằng hữu, cao cả và uy quyền, con cảm
tạ chúc tụng Chúa vì lòng nhân từ đại lượng vô biên của Chúa. Không vì
con xứng công gì mà chỉ nhờ lòng Chúa thương đoái nhìn, Chúa cho con
mạng sống thân xác con, mặc dù con chỉ là bụi đất và thụ tạo vô dụng,
con chưa đền đáp được xứng đáng vì các đặc ân này; làm sao con dám xin
điều con không thể đền đáp? Nhưng, lạy Chúa và Cha của con, xin nhìn đến
Con Một vô cùng yêu dấu Chúa mà ban cho con thứ cần thiết giữ mạng sống
tự nhiên của con và phu quân con, để con có thể phụng sự Ngôi Lời làm
người cứu độ nhân loại.”
Để những lời kêu nài của Đức Hiền Mẫu cực dịu hiền có thể thốt ra từ
những đau khổ lớn lao hơn, thêm vào với đau khổ do vất vả cơ cực đói
khát, Đấng Tối Cao còn để cho Thánh Gia chịu đau khổ hơn vào những dịp
khác. Trận mưa bão nổi lên làm cho Thánh Gia khổ cực và mịt mù. Gian khổ
này còn làm cho trái tim đầy yêu thương của Đức Hiền Mẫu sầu phiền hơn
nữa vì thương Chúa Hài Đồng mới chưa được năm mươi ngày. Mặc dầu Mẹ
Maria ủ bọc Chúa bằng hết khả năng, Mẹ đã không thể giữ cho Chúa không
cảm thấy sự khắc nghiệt của thời tiết. Chúa khóc lệ đầm đìa run rẩy vì
lạnh y như các trẻ nhỏ khác. Khi đó Đức Hiền Mẫu dùng quyền là Nữ Vương
mọi tạo vật truyền cho mưa bão không được làm đau đớn Đấng Tạo Hoá của
chúng, mà phải dâng lên Chúa nơi ở yên tĩnh, và trút mọi ác độc của
chúng trên một mình Mẹ. Cũng như trong dịp Chúa giáng sinh và hành trình
lên Jerusalem, lần nữa gió lập tức giảm cường độ, trận bão dịu đi, không
dám tới gần Thánh Gia nữa. Để đáp lại lòng lo lắng yêu thương này, Chúa
Hài Đồng Giêsu truyền cho các thiên thần giúp đỡ Đức Hiền Mẫu cực nhân
từ và che Thánh Gia khỏi sự nghiệt ngã của thời tiết. Các thiên thần lập
tức tuân lệnh tạo thành một bầu tròn đẹp rực rỡ bao quanh Thánh Gia.
Việc này diễn ra nhiều lần suốt hành trình vượt sa mạc.
Thánh Gia cơ cực vì thiếu thốn lương thực và những thứ khác không thể
nào có được theo khả năng loài người. Thiên Chúa để cho Thánh Gia rơi
vào hoàn cảnh thiếu thốn này để khi nghe những lời cầu nguyện đáng chấp
nhận của Người Yêu Dấu, Chúa có thể ban lương thực qua tay các thiên
thần. Các thiên thần đem tới bánh ngon và trái cây đúng mùa, mà hơn cả
là nước uống hết sức ngọt ngào do chính các thiên thần làm ra và dâng
lên. Kế đó tất cả các thiên thần hát ca chúc tụng cảm tạ Chúa, Đấng ban
lương thực cho muôn loài vào đúng thời điểm, để những người nghèo khó
được no thoả (Tv 135:25) những người mà mắt và lòng trông cậy gắn chặt
vào sự Quan Phòng và lòng đại lượng của Chúa. Đó là lương thực mỹ vị
Chúa thiết đãi ba Vị Khách Lưu Vong trong sa mạc Bersabe (3 Vua 19:3),
đây cũng là sa mạc mà khi chạy trốn Jezabel, tiên tri Elias được bổ
dưỡng bằng bánh do thiên thần đem tới để ngài có thể đi tới núi Horeb.
Cuộc hành trình gian khổ kéo dài cho tới khi Thánh Gia tới thị trấn có
người cư ngụ ở Ai Cập. Khi đi vào các thị trấn, Chúa Hài Đồng, ở trên
tay Đức Hiền Mẫu, ngước nhìn và đưa hai tay lên Thiên Chúa Cha xin ơn
cứu độ cho cư dân trong các thành đó bị Satan khống chế. Chúa Hài Đồng
dùng quyền năng vô cùng xua đuổi quỉ ra khỏi các tượng thần và liệng
chúng xuống hoả ngục. Cùng lúc đó các tượng thần nhào xuống đất vỡ nát,
các bàn thờ vỡ ra từng mảnh, các đền thờ tà thần sụp đổ. Mẹ Maria biết
rõ nguyên do những hiệu lực kỳ diệu này, vì Mẹ liên kết lời cầu nguyện
của Mẹ với lời cầu nguyện của Con cực thánh trong tư cách là Đấng đồng
công cứu chuộc nhân loại. Thánh Giuse cũng biết đây là việc Ngôi Lời
nhập thể làm; ngài dâng lời chúc tụng tôn vinh Chúa. Nhưng lũ quỉ, mặc
dầu chúng cảm thấy quyền lực Thiên Chúa, không biết quyền lực này phát
xuất từ đâu.
Dân chúng Ai Cập, cả những người uyên bác, sửng sốt trước những việc xảy
ra mà không thể giải thích. Từ ngày tiên tri Jeremia lưu trú ở Ai Cập
tới nay vẫn còn lời truyền tụng rằng một Vị Vua người Do Thái sẽ tới và
các đền thờ ngẫu thần sẽ bị hủy diệt. Mặc dầu có lời truyền tụng này,
những người bình dân không biết chút gì, cả những học giả cũng không
biết lời truyền tụng đó được thực hiện cách nào. Vì thế sự kinh hoàng
lan tràn khắp nơi, như tiên tri Isaias đã báo trước (Is. 9:1). Giữa sự
hỗn loạn sợ hãi này, một số người, suy nghĩ về các biến cố này, đã đến
với những Vị Khách Lạ mới tới, họ cũng nói với các ngài về sự sụp đổ các
đền thờ và tượng thần của họ. Nhân cơ hội này Đức Hiền Mẫu giải phóng
những người này khỏi sự lừa dối; nói với họ về Thiên Chúa đích thực; dạy
họ biết Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá duy nhất của cả trời đất, chỉ một
mình Thiên Chúa phải được tôn thờ và nhìn nhận là Thiên Chúa. Các thần
khác chỉ là tà thần dối trá, chỉ là gỗ, hoặc đất, hoặc kim loại được
người ta làm ra, không có mắt nhìn, không tai nghe, cũng chẳng có quyền
hành gì. Chính những người đã làm ra các tượng thần, hoặc bất cứ người
nào khác, có thể tùy ý phá hủy các tượng đó. Những lời các tượng thần đó
nói ra chỉ là những câu đối đáp ma quỉ dối trá lừa lọc nói qua các tượng
đó; và cả ma quỉ cũng không có quyền năng gì, vì chỉ có một Thiên Chúa
đích thực mà thôi.
Lời Mẹ Maria dịu dàng nhân từ, đồng thời cũng tràn đầy sức sống và uy
lực. Gương mặt Mẹ Maria hết sức yêu kiều, các lời Mẹ nói được kèm theo
những hiệu lực hết sức tốt lành. Tin tức loan truyền về việc hiện diện
của các Vị Lữ Khách lạ lùng này mau chóng loan truyền khắp nhiều thị
trấn. Nhiều người tụ lại để xem và nghe lời Mẹ Maria và thánh Giuse.
Những lời cầu nguyện đầy uy lực của Ngôi Lời nhập thể đã làm thay đổi
các trái tim, việc vỡ nát các tượng thần gây ra sự chấn động khó tin
giữa những người này, cấy vào trí khôn họ sự hiểu biết về Thiên Chúa
thực và lòng hối hận tội lỗi, nhưng không cho họ biết từ ai hoặc nhờ ai
mà những hồng ân này đến với họ. Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse
giong ruổi qua nhiều thị trấn Ai Cập, làm nhiều phép lạ khác nữa, xua
đuổi ma quỉ không phải chỉ khỏi các tượng thần, mà còn xua đuổi chúng ra
khỏi nhiều người bị chúng chiếm hữu, chữa nhiều người khỏi bệnh nguy
kịch trầm trọng, soi sáng tâm trí người ta bằng các giáo lý về chân lý
và cuộc sống vĩnh cửu. Do các ơn lành nhất thời này và các ân sủng khác,
nhiều người tới nghe lời Mẹ Maria và thánh Giuse chỉ dạy về đời sống tốt
lành hữu ích.
Ở nhiều nơi tại Ai Cập vẫn còn lưu truỵền các việc kỳ lạ Ngôi Lời nhập
thể đã làm, gợi lên những khác biệt về ý kiến giữa các tác giả thần học
và sử gia liên quan đến thị trấn, nơi các Vị Lữ Khách trú ngụ khi lưu
vong tại Ai Cập. Một số người cho rằng Thánh Gia ngụ tại thị trấn này,
người khác cho rằng ở thị trấn kia. Tuy vậy có thể tất cả các người đó
đều đúng, vì mỗi người đó có thể nói tới một trong các giai đoạn khác
nhau trong thời gian Thánh Gia ngụ tại Memphis, hoặc Babylon, hoặc
Matarieh; vì Thánh Gia không phải chỉ ghé lại các thành phố này thôi, mà
còn ghé lại nhiều nơi khác nữa. Tác giả được cho biết Thánh Gia đi qua
các thành phố này rồi tới tạm cư tại Heliopolis, ngày nay là Cairo, thủ
đô Ai cập. Các thiên thần hộ vệ nói cho Mẹ Maria và thánh Giuse biết
Thánh Gia sẽ định cư tại Heliopolis. Ngoài những đổ nát của các đền thờ
và các tượng thần xảy ra khi Thánh Gia tới thành phố này, cũng như tại
những nơi khác, Chúa còn làm nhiều phép lạ khác nữa vì vinh quang Chúa
và để cứu các linh hồn. Dân chúng tại Heliopolis (sự tốt phước của thành
phố này đã được tiên báo trong tên của nó là “Thành phố Mặt Trời”) sẽ
được thấy Mặt Trời Công Chính và ân sủng mọc lên chiếu sáng trên họ.
Theo ý Chúa, thánh Giuse tìm mua một ngôi nhà nghèo nàn khiêm tốn làm
nơi cư ngụ trong khu vực không xa thành phố, tuy nhiên thuận tiện, đúng
như ý Mẹ Maria.
Mẹ Maria và thánh phu quân đã vui vẻ thích nghi với sự khó nghèo nơi căn
nhà nhỏ bé của các ngài. Nhà này có ba phòng, Mẹ Maria và thánh Giuse
dành một phòng làm thánh điện cho Chúa Hài Đồng dưới sự chăm sóc trìu
mến của Đức Hiền Mẫu cực trinh khiết; trong đó đặt nôi Chúa nằm và chiếc
giường mộc mạc gỗ trơn của Mẹ Maria. Mãi tới mấy ngày sau, do nỗ lực của
thánh Giuse và nhờ lòng hảo tâm của các phụ nữ nhiệt thành, giường của
Mẹ Maria mới có vải phủ. Một phòng dành làm nơi ngủ và cầu nguyện của
thánh Giuse. Phòng thứ ba là xưởng mộc. Nhìn thấy tình trạng nghèo khó
của Thánh Gia, hết sức chật vật khó kiếm đủ việc làm với nghề thợ mộc,
Mẹ Maria quyết định trợ giúp thánh Giuse bằng thủ công để mưu sinh. Mẹ
Maria tìm được việc thêu may nhờ sự giúp đỡ của các phụ nữ đạo đức.
Để có lương thực và y phục tối cần thiết, trang bị ngôi nhà dù hết sức
khiêm tốn, trang trải các chi phí cần thiết, dường như Mẹ Maria phải làm
việc suốt ngày và dành thời gian đêm cho việc cầu nguyện. Mẹ Maria quyết
định việc này, không phải vì lý do lợi lộc, cũng không phải vì Mẹ không
thể tiếp tục chiêm niệm ban ngày, vì Mẹ luôn làm việc trước sự hiện diện
của Chúa Hài Đồng. Mẹ thường dành một số tiếng đồng hồ vào việc cầu
nguyện đặc biệt. Mẹ muốn chuyển những giờ cầu nguyện đó sang ban đêm để
có thêm thì giờ lao động, mà không phải xin hoặc trông chờ Thiên Chúa
ban phép lạ trợ giúp cho bất cứ thứ gì Mẹ có thể tìm được do nỗ lực lao
động. Mẹ Maria xin Thiên Chúa Cha hằng hữu ban trợ giúp cho Con cực
thánh; nhưng đồng thời Mẹ tiếp tục lao động. Mẹ Maria liên kết lời cầu
nguyện với lao động, để có được những thứ cần thiết cho cuộc sống.
Vì cái nóng dữ dội ở Ai Cập và nhiều bất ổn xảy ra trong dân chúng, tình
trạng hỗn loạn đáng lo ngại lan tràn khắp nơi. Trong những năm Thánh Gia
lưu lại Ai Cập, bệnh dịch tàn phá Heliopolis và nhiều nơi khác. Vì lời
tường thuật về các việc lạ lùng của Thánh Gia, vô số người từ khắp Ai
Cập đã đến với Thánh Gia và trở về nhà được chữa lành bệnh thể chất và
linh hồn. Để hồng ân Chúa có thể tuôn ra dồi dào hơn nữa, để Thân Mẫu
nhân từ của Chúa có thể có được sự trợ giúp trong các việc bác ái, Thiên
Chúa đã truyền cho thánh Giuse giúp đỡ Mẹ Maria giảng dạy và chữa lành
những người tật nguyền. Thánh Giuse được ban cho ơn soi sáng mới và
quyền năng chữa lành bệnh. Mẹ Maria khởi sự dùng việc trợ lực của thánh
Giuse vào năm thứ ba Thánh Gia ở Ai Cập. Thánh Giuse thường xuyên chỉ
dạy, chữa lành bệnh cho nam giới, trong khi Mẹ Maria săn sóc các phụ nữ.
Kết quả do việc lao động của Mẹ Maria và thánh Giuse nơi linh hồn người
ta thiệt là khôn lường. Lòng nhân từ thương xót và hiệu lực bao la của
lời Mẹ lôi kéo mọi người đến với Mẹ.
Sự khiêm tốn và thánh thiện của Mẹ đổ tràn đầy tâm hồn người ta lòng yêu
mến nhiệt thành. Người ta dâng cho Mẹ Maria nhiều quà tặng và tài sản
lớn lao, mong mỏi thấy Mẹ dùng những thứ đó, nhưng không bao giờ Mẹ nhận
một thứ gì cho Mẹ, hoặc dành riêng để Mẹ sử dụng. Thánh Gia luôn tự túc
mọi nhu cầu do sức lao động đôi bàn tay Mẹ và thánh Giuse. Đôi khi Mẹ
nhận quà tặng để giúp người nghèo. Chỉ với ý niệm này mà đôi khi Mẹ
Maria chịu nhường trước những lời nài nỉ trìu mến sốt sắng của các người
nhiệt tâm. Ngay cả trường hợp đó, Mẹ Maria thường tặng lại cho họ những
thứ do chính tay Mẹ làm ra. Từ những điều chúng tôi vừa mới kể, chúng ta
có thể ước lượng được các phép lạ vĩ đại chừng nào và nhiều chừng nào đã
được Thánh Gia làm trong bảy năm lưu vong tại Ai Cập và riêng tại
Heliopolis.
Điều làm cho Mẹ Maria xúc động dâng lòng ngưỡng phục, yêu mến, chúc tụng
lớn lao nhất lên Đấng Tối Cao là Thiên Chúa tỏ ra vô cùng đại lượng đối
với các thánh Anh Hài. Mẹ biết rõ chẳng khác gì Mẹ hiện diện khi vô số
hài nhi bị giết. Tất cả các hài nhi này, mặc dầu một vài bé chỉ mới được
tám ngày, hai hoặc sáu tháng, không một hài nhi nào trên hai tuổi, đã sử
dụng được lý trí, được ơn hiểu biết cao độ về Thiên Chúa, yêu mến, tin
và trông cậy toàn hảo. Với các nhân đức này, các thánh Anh Hài thực hành
nhiều hành động anh hùng về đức tin, tôn thờ, yêu mến Thiên Chúa; tôn
kính, yêu mến cha mẹ. Các thánh Anh Hài cầu nguyện cho cha mẹ mình, xin
được cho họ ơn soi sáng và thăng tiến trong việc thiêng liêng. Các thánh
Anh Hài sẵn lòng chịu tử đạo, mặc dầu tuổi ấu thơ, làm cho những đau khổ
của mình trở nên hết sức vĩ đại và tăng thêm công nghiệp. Muôn vàn thiên
thần đưa linh hồn các thánh Anh Hài xuống lâm bô. Khi tới nơi, các thánh
sơ sinh này làm cho các thánh tổ hân hoan, làm cho các ngài tin tưởng
hơn, hy vọng ngày giải phóng mau tới. Tất cả những việc này là hiệu lực
của lời cầu nguyện của Chúa Hài Đồng và Đức Hiền Mẫu. Vì biết mọi việc
kỳ diệu này, Mẹ Maria cháy lửa yêu mến nhiệt thành đã kêu lên: “Hỡi các
con, hãy chúc tụng Chúa”. Hợp với các thánh Anh Hài, Mẹ chúc tụng Đấng
là tác giả các kỳ công này, hết sức xứng hợp với Lòng Nhân Từ và Quyền
Năng Vô Cùng của Chúa.
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, trong những điều con đã viết, Mẹ ước mong con học được từ
chính sự lo buồn và sợ hãi mà với các điều đó con thi hành nhiệm vụ này.
Con phải phiền sầu khi thấy một thụ tạo cao quí như loài người, được tạo
dựng giống hình ảnh Chúa, được phú cho các tính chất linh thiêng cao
quí, được ban cho khả năng hiểu biết, yêu thương, chiêm ngưỡng và vui
hưởng Thiên Chúa hằng hữu, lại có thể tự để cho mình bị hạ giá, bị ô uế
vì những tham vọng ác độc ghê tởm đến mức làm đổ máu các hài nhi vô tội.
Con phải khóc vì sự suy vong của rất nhiều linh hồn, đặc biệt trong thời
đại con sống, khi cũng tham vọng, đã xúi giục Herode, lại gây ra lòng
ghen ghét thù hận lớn lao giữa con cái Giáo Hội, gây ra việc hư mất của
vô số linh hồn, làm hư phí máu cực châu báu Con cực thánh Mẹ đổ ra để
cứu chuộc nhân loại. Con hãy cay đắng phàn nàn về việc hư mất này.
Tuy nhiên con phải cảnh giác bởi những điều con đã thấy nơi người khác.
Con hãy cân nhắc những hiệu lực của tham vọng thấm nhập các trái tim.
Một khi tham vọng làm chủ trái tim, chúng sẽ đốt cháy trái tim bằng ham
muốn khát vọng muốn đạt được kết quả, hoặc làm cho trái tim ngút lửa hận
thù khi đối đầu với bất cứ chống đối nào. Con của Mẹ, con phải sợ hãi
điều nguy hiểm này, không phải chỉ vì các kết quả con thấy nơi cao vọng
của Herode, nhưng cũng vì những điều con thấy xảy ra từng giờ phút nơi
người khác. Con phải cẩn trọng không để con bị bất cứ thứ gì, dù nhỏ mọn
đến đâu, làm chủ con, vì chỉ một tia lửa nhỏ đủ để gây ra một đám cháy
lớn. Mẹ vẫn thường nhắc lại với con cũng lời cảnh cáo này, Mẹ sẽ năng
nhắc lại nữa cho con trong tương lai, vì khó khăn lớn lao nhất trong
việc thực hành thánh đức là chết đi đối với tất cả những thứ gì làm thỏa
mãn ngũ quan. Con không thể là dụng cụ thích hợp trong tay Chúa như Ngài
muốn nếu con không tẩy sạch mọi quan năng của con khỏi hình ảnh mọi thụ
tạo, để chúng không thể tìm được lối vào các ước vọng của con. Mẹ muốn
cho con một luật không lay chuyển là, ngoài Thiên Chúa, tất cả mọi thứ,
kể cả các thiên thần các thánh, phải như là không hiện hữu đối với con.
Chúa đã mở cho con các bí mật thiên đàng, làm vinh hạnh cho con bằng sự
thân mật yêu thương của Ngài, vì mục đích này Mẹ cũng làm vinh danh con
với lòng yêu thương thân thiết của Mẹ, để con không sống cũng không muốn
sống nếu không có Chúa.
CHƯƠNG 9
* SỰ HIỆP
THÔNG TUYỆT VỜI GIỮA CHÚA GIÊSU VÀ MẸ MARIA;
* HÀNH TRÌNH TỪ AI CẬP TRỞ VỀ
Khi tròn một tuổi, Chúa Hài Đồng quyết định phá vỡ tình trạng câm nín và
nói với thánh dưỡng phụ lần đầu tiên (Chúa đã nói với Mẹ Maria ngay từ
khi Chúa giáng sinh). Mẹ Maria và thánh dưỡng phụ đang trao đổi về bản
tính vô cùng của Thiên Chúa, lòng Chúa nhân từ thương yêu vô cùng mà vì
đó Ngài gởi Con Một vô cùng yêu dấu đến trần gian để dạy đỗ và cứu chuộc
nhân loại; Ngôi Lời mặc hình hài nhân loại để có thể đối thoại với loài
người, gánh chịu những hình phạt vì các bản chất sa đoạ của họ. Thánh
Giuse ngây ngất thán phục trước các kỳ công của Chúa, ngút lửa yêu mến
tri ân và chúc tụng. Chúa Hài Đồng, trong vòng tay Đức Hiền Mẫu như trên
ngai tòa khôn ngoan, đã dùng dịp này, bằng giọng rõ ràng nói với thánh
Giuse: “Cha của Con, Con từ thiên đàng xuống trần gian để là ánh sáng
soi thế gian, để cứu thế gian khỏi bóng tối tội lỗi, để tìm kiếm các
chiên của Con như Mục Tử tốt lành, ban cho chúng của dinh dưỡng hằng
sống, dạy chúng đường về trời, mở cửa thiên đàng đã từng bị đóng lại vì
tội lỗi nhân loại. Con ước muốn cả cha và Mẹ là con cái của Ánh Sáng, mà
cha và Mẹ có sẵn bên tay.”
Những lời này của Chúa Hài Đồng Giêsu, đầy sức sống thần linh, đổ tình
yêu mới, lòng tôn kính và hoan lạc tràn đầy trái tim thánh dưỡng phụ.
Thánh Giuse quì xuống trước mặt Chúa Hài Đồng, với lòng khiêm tốn thẳm
sâu, ngài tạ ơn Chúa vì đã gọi ngài là “cha” trong lời đầu tiên nói với
ngài. Thánh Giuse mắt đẫm lệ xin Chúa soi sáng và cho ngài đủ khả năng
chu toàn thánh ý Chúa, xin dạy ngài biết tạ ân vì những ân sủng khôn
sánh do lòng nhân từ đại lượng của Chúa. Các cha mẹ thường xúc động,
hãnh diện khi thấy con cái tỏ ra những dấu đặc biệt khôn ngoan đức hạnh.
Các cha mẹ thường có khuynh hướng tán dương, bắt chước những cử chỉ, lời
nói ngây thơ của con cái. Tất cả những việc này đều do lòng trìu mến yêu
thương con cái thơ ngây của họ. Mặc dầu thánh Giuse không phải là thân
phụ, mà chỉ là dưỡng phụ của Chúa Giêsu, tình ngài yêu Chúa vượt xa mọi
tình yêu của tất cả mọi người cha yêu con cái họ. Lòng ưu ái, ngay cả
tình yêu tự nhiên nơi thánh Giuse cũng mãnh liệt hơn nơi mọi người khác,
hơn tất cả mọi cha mẹ cộng lại. Trong khi lắng nghe sự khôn ngoan và sự
hiểu biết đáng ca tụng vô cùng nơi Chúa Hài Đồng, thánh Giuse nghe mình
được gọi là “cha của Con Thiên Chúa Cha hằng hữu”, thấy mình được hết
sức đẹp đẽ trong thánh sủng. Do đó niềm vui trong linh hồn ngài phải
được đo bằng tình yêu và ý thức sâu sắc của ngài trong địa vị “dưỡng phụ
của Chúa Hài Đồng Giêsu”.
Từ khi Chúa giáng sinh cho tới nay, Đức Hiền Mẫu Maria bọc Chúa Hài Đồng
trong khăn tã thường dùng cho các trẻ thơ, vì Chúa muốn, trong trường
hợp này, giống như mọi hài nhi khác. Vì muốn chứng minh nhân tính đích
thực và tình yêu đối với loài người, Chúa chịu đựng điều bất tiện mặc
dầu không đòi hỏi Chúa phải chịu. Tình yêu vô biên của Chúa cho nhân
loại làm cháy lên trong Mẹ Maria lòng cảm tạ đầy yêu thương đối với
Chúa, tạo ra trong Mẹ nhiều hành động anh hùng thánh đức. Vì thấy Chúa
Hài Đồng Giêsu không muốn mang giày dép và chỉ cần một tấm áo, Mẹ Maria
nói với Chúa: “Con và Chúa của mẹ, mẹ của Con không lòng nào để Con đi
chân trần lúc tuổi non nớt. Con yêu dấu của mẹ, hãy cho phép mẹ làm thứ
gì để bọc chân Con. Mẹ cũng sợ rằng thứ vải thô cứng, mà Con xin mẹ may,
sẽ làm đau thân xác non nớt của Con, nếu Con không cho phép mặc cho Con
áo lót mềm bên trong.” Chúa nói với Mẹ Maria: “Thưa Mẹ của Con, Con xin
vui lòng để thứ vật liệu nhẹ thông thường lót chân Con cho tới ngày Con
rao giảng công khai, vì Con phải đi chân trần trong giai đoạn đó. Nhưng
Con không muốn mặc đồ lót mỏng, vì nó khích thích khoái lạc thân xác, và
là nguyên nhân nhiều tật xấu xa nơi nhân loại. Con muốn, bằng gương sáng
của Con, dạy mọi người từ bỏ khoái lạc xác thịt vì yêu mến bắt chước
Con.”
Từ khi Chúa Hài Đồng Giêsu đứng đi được, Chúa khởi sự rút về ẩn dật, sử
dụng một số giờ ban ngày trong phòng cầu nguyện của Thánh Mẫu Maria yêu
dấu. Vì Đức Hiền Mẫu cực khôn ngoan lo lắng tìm biết những điều Chúa
muốn Mẹ đối xử với Chúa, Chúa đáp lời cầu khẩn âm thầm của Mẹ: “Thưa Mẹ
của Con, Mẹ hãy vào và ở lại với Con luôn để Mẹ có thể bắt chước Con
trong các việc Con làm, vì Con muốn khuôn đúc và trưng bày trong Mẹ sự
trọn lành cao vời mà Con muốn thấy được hoàn thành nơi các linh hồn. Nếu
các linh hồn không chống lại những ý định đầu tiên của Con (1 Tim. 2:4),
các linh hồn đã được ban cho những hồng ân dồi dào nhất. Nhưng vì nhân
loại cản trở việc này, Con đã chọn Mẹ làm biển chứa mọi sự trọn lành và
mọi kho tàng quyền năng của Con mà các người khác trong nhân loại đã sỉ
nhục mà bị mất. Vì thế, Mẹ hãy quan sát theo dõi mọi hành động của Con
để bắt chước Con.”
Mẹ Maria đã được canh tân làm Môn Đệ của Con cực thánh. Từ ngày đó trở
đi những mầu nhiệm vĩ đại được trao đổi giữa Chúa Hài Đồng và Mẹ Maria,
mà chỉ tới tận thế các mầu nhiệm đó mới được tỏ lộ. Nhiều lần Chúa Hài
Đồng phủ phục trên đất, những lần khác Chúa đứng như hình thánh giá, tha
thiết khẩn nài xin Thiên Chúa Cha cho việc cứu chuộc nhân loại. Đức Hiền
Mẫu rất yêu dấu bắt chước Chúa trong các việc này, vì mọi việc làm của
linh hồn cực thánh Chúa đều tỏ rõ cho Mẹ Maria, y như mọi cử chỉ bên
ngoài của thánh thể Chúa. Tác giả đã nói về sự hiểu biết này của Mẹ ở
nhiều phần khác trong sách này và cần phải năng được nhắc lại, vì đó là
nguồn ánh sáng hướng dẫn Mẹ trong suốt cuộc đời rất thánh Mẹ. Đây là ân
sủng đặc biệt mà toàn thể mọi thụ tạo chung lại cũng không thể nào hiểu
được hoặc mô tả về hồng ân đó bằng tất cả khả năng của họ chung lại. Mẹ
Maria không luôn được vui hưởng thị kiến Thiên Chúa, nhưng Mẹ được thấy
nhân tính và linh hồn cực thánh cùng với tất cả mọi hoạt động của nhân
tính và linh hồn Chúa Giêsu. Mẹ Maria đặc biệt chứng kiến các hiệu lực
của việc hợp nhất nhân tính với thiên tính. Mẹ thấy các hành động nhân
tính của Chúa âm thầm tôn thờ yêu mến, tôn vinh thiên tính mà nhân tính
được kết hợp với; đặc quyền này chỉ được dành riêng cho Mẹ Maria.
Vào các dịp này Chúa Hài Đồng thường khóc toát mồ hôi máu trước sự hiện
diện của Mẹ Maria, và xảy ra nhiều lần trước cuộc đau đớn quằn quại
trong vườn Cây Dầu. Những dịp này Mẹ Maria lau mặt cho Chúa và Mẹ biết
nguyên nhân của sự sầu phiền này. Nguyên do đó là sự hư mất của những kẻ
bị biết trước sẽ trầm luân vì vong ân bội bạc đối với ân sủng của Đấng
Tạo Hoá và Cứu Độ họ; nơi những người đó các công trình của quyền năng,
lòng nhân từ vô cùng của Chúa bị lãng phí. Có những lần khác Mẹ thấy
Chúa rực rỡ trong ánh sáng thiên đàng và các thiên thần vây quanh hát ca
chúc tụng. Mẹ Maria cũng được biết Thiên Chúa Cha hài lòng nơi Con Một
vô cùng yêu dấu (Mt. 17:5). Các việc lạ lùng này khởi đầu từ ngày Chúa
tròn một tuổi và bắt đầu đi đứng, chỉ một mình Mẹ Maria được chứng kiến
và trái tim Mẹ là kho tàng bao la tích chứa các kỳ công của Chúa.
Nhiều thiếu nhi ở Heliopolis tụ tập quanh Chúa Hài Đồng Giêsu, điều đó
tự nhiên đối với các trẻ nhỏ cùng lứa tuổi và hoàn cảnh. Các trẻ nhỏ
không có lòng ác độc quyết liệt, không thắc mắc tìm biết Chúa Hài Đồng
có phải là siêu nhân hay không, chúng tự do tiếp nhận ánh sáng thiên
đàng; Thầy dạy chân lý đã hoan hỉ đón tiếp các trẻ nhỏ này cách thích
nghi. Chúa đổ vào lòng các thiếu nhi này sự hiểu biết Thiên Chúa và mọi
thánh đức. Chúa dạy và giáo huấn chúng theo đường lối hằng sống, dồi dào
hơn cho người lớn. Lời Chúa nói đầy sức sống mãnh liệt, chiếm trái tim
chúng, ghi khắc các chân lý sâu xa vào lòng chúng, tất cả những trẻ nào
được diễm phúc này, về sau đều trở thành vĩ nhân thánh thiện, vì theo
thời gian các trẻ này làm cho mình thành trái chín mùi của hạt giống
thiên đàng được gieo rất sớm vào linh hồn chúng.
Chúa Giêsu đã tròn bảy tuổi, mà đây cũng là kỳ hạn được Đấng Khôn Ngoan
hằng hữu ấn định cho cuộc lưu đày huyền nhiệm của Chúa ở Ai cập. Để các
lời tiên tri được hoàn tất, Chúa Cứu Thế cần phải trở lại Nazareth.
Thiên Chúa Cha thông báo cho Con cực thánh vào một ngày có Đức Thánh Mẫu
hiện diện cầu nguyện chung với Chúa. Mẹ Maria thấy quyết định của Thiên
Chúa Cha phản chiếu trong linh hồn cực thánh Chúa, Mẹ thấy Chúa vâng
lệnh Thiên Chúa Cha. Trong trường hợp này Mẹ kết hợp với thánh ý Chúa,
mặc dầu Chúa và Mẹ đã quen với nơi cư ngụ hiện tại hơn là tại thị trấn
quê nhà Nazareth. Cả Mẹ Maria và Chúa đều không nói cho thánh Giuse biết
quyết định mới này của Thiên Chúa Cha. Nhưng trong chính đêm đó thiên
thần Chúa nói với thánh dưỡng phụ khi ngài đang ngủ, như thánh Mátthêu
kể lại, truyền cho ngài đem Chúa Giêsu và Đức Hiền Mẫu trở lại đất Do
Thái, vì Herode và đồng bọn, những người từng tìm giết Chúa, đều chết cả
rồi (Mt 2:19). Đấng Toàn Năng ban giá trị hết sức lớn lao trên trật tự
chính đáng của các thụ tạo. Vì thế, cho dù Chúa Giêsu là Thiên Chúa thực
và Mẹ Maria có địa vị hết sức cao vượt trên thánh Giuse về sự thánh
thiện, Thiên Chúa không để Chúa Con hoặc Đức Hiền Mẫu đưa ra những sắp
đặt cho hành trình này, mà chính thánh Giuse đảm trách vì ngài là gia
trưởng. Thiên Chúa muốn dạy nhân loại biết Chúa muốn mọi thứ được quản
trị theo trật tự tự nhiên mà Sự Quan Phòng của Chúa sắp đặt, các người
bề dưới, những người trong nhiệm thể Giáo Hội có bổn phận phải tuân
phục, vâng lời bề trên và các vị chủ chăn theo trật tự hữu hình, cho dù
những người đó có thể trội vượt hơn các bề trên về nhân đức và trong một
số lãnh vực khác.
Thánh Gia lên đường trở về Palestine có các thiên thần hộ vệ như ngày
trốn đi. Mẹ Maria ngồi trên lưng lừa bồng Chúa Con trên gối, thánh Giuse
đi bộ kề bên Thiên Chúa Con và Đức Hiền Mẫu. Những người quen biết và
bằng hữu của Thánh Gia rất buồn trước tin Thánh Gia lên đường hồi hương
vì họ mất đi các Vị Đại Ân Nhân. Nếu quyền năng Thiên Chúa không can
thiệp, Thánh Gia hẳn đã khó lòng rời khỏi Heliopolis, vì dân chúng tại
đây bắt đầu cảm thấy bóng đêm thống khổ âm thầm trùm lên trái tim họ khi
Mặt Trời đã đánh tan bóng tối của màn đêm (Gioan 1:9) ra đi. Khi đi qua
các thị trấn Ai Cập, Thánh Gia ban phát muôn ân sủng cho mọi người tại
các vùng có dân cư. Tin tức về Thánh Gia lên đường hồi hương được loan
truyền khắp nơi, những người đau ốm, tật nguyền bất hạnh tụ tập đón
Thánh Gia đi ngang qua. Nhiều người bệnh tật được chữa lành, ma quỉ bị
xua trừ ra khỏi người ta nhưng không biết Ai đã liệng chúng trở lại hoả
ngục mặc dầu chúng cảm thấy quyền lực Thiên Chúa khống chế chúng và ban
muôn ơn lành cho người ta.
Thánh Gia về tới quê nhà Nazareth, vì Chúa Cứu Thế phải được gọi là
Người Nazareth. Thánh Gia thấy ngôi nhà khiêm tốn cũ được người bà con
phía thánh Giuse coi sóc cẩn thận, người bà con này đã giúp đỡ thánh
Giuse trong khi Mẹ Maria ở lại nhà bà Elisabeth. Người bà con giữ nhà
hết sức vui mừng chào đón Thánh Gia; bà rất yêu mến Mẹ Maria, mặc dầu
lúc đó bà không biết chút gì về địa vị Mẹ. Mẹ Maria dắt Chúa Hài Đồng đi
vào trong nhà cùng với thánh Giuse. Lập tức Mẹ Maria quì phục xuống đất
thờ lạy cảm tạ Chúa đã hướng dẫn Thánh Gia an toàn thoát khỏi lòng ác
độc của Herode và an toàn trở lại ngôi nhà này, đã gìn giữ Thánh Gia
thoát khỏi mọi nguy hiểm trong cuộc lưu vong và suốt các hành trình dài
gian khổ. Hơn hết tất cả là Mẹ cảm tạ Chúa vì đã được trở về cùng với
Con cực thánh, lúc này trưởng thành cả về tuổi tác, về ân sủng và thánh
đức (Lc. 2:40).
Theo lời cố vấn của Chúa Con, Mẹ Maria đặt ra qui luật cho cuộc sống,
sắp đặt các việc thực hành đạo đức của Mẹ. Mẹ đã luôn giữ kỷ luật tột
đỉnh trọn hảo tùy theo mọi hoàn cảnh để bắt chước Con cực thánh. Lúc này
yên lành ổn cư, Mẹ Maria muốn làm nhiều việc thực hành tu đức mà đã
không thể nào thực hiện được trong cuộc hành trình. Lòng khao khát lớn
lao nhất của Mẹ là luôn kết hợp với Con cực thánh trong việc cứu vớt các
linh hồn; việc này đã được Thiên Chúa Cha hằng hữu truyền cho Mẹ cách
cực kỳ khẩn cấp. Nhắm mục đích tối thượng này, Mẹ kết hiệp tất cả mọi
thực hành của Mẹ với Chúa Cứu Thế, đây là việc làm không khi nào ngưng
của Chúa và Mẹ Maria. Thánh Giuse tận tụy làm mọi việc và nghề nghiệp
của ngài. Những điều mà các con cháu khác của Adong cho là hình phạt và
khổ cực lại là niềm hạnh phúc cao cả đối với thánh Giuse. Thánh Giuse
được chọn để bằng sức cần lao và mồ hôi nuôi dưỡng chính Thiên Chúa làm
người và Đức Hiền Mẫu, Đấng mà cả trời đất và mọi sự trong trời đất đều
thuộc sở hữu (Est. 13:10).
Mẹ Maria đích thân thi hành việc đền đáp công ơn thánh Giuse vì những
vất vả lo lắng của ngài. Mẹ lo lắng bữa ăn, chăm sóc an ủi ngài với lòng
quan tâm ân cần, biết ơn và yêu thương chí tình. Mẹ Maria vâng phục
thánh Giuse trong mọi sự, khiêm tốn đối với ngài chẳng khác gì Mẹ là nữ
tì chứ không phải hiền thê, hoặc, hơn nữa, Mẹ tự coi không phải là Mẹ
Đấng Tạo Thành và Chúa muôn loài. Mẹ Maria coi mình không xứng đáng hiện
hữu và bị đau khổ phải bước đi trên đất. Mẹ nghĩ Mẹ phải được để cho
thiếu thốn mọi thứ. Mẹ xây đắp trong Mẹ lòng khiêm tốn lạ lùng, tự coi
mình hèn kém và không xứng đáng hòa lẫn với bụi đất. Mẹ Maria dâng lên
Chúa lời tạ ân chân thành vì những ơn dù nhỏ nhặt nhất, vì Chúa là
nguyên nhân chính và nguồn gốc mọi ân sủng. Mẹ cũng cám ơn toàn thể thụ
tạo vì chúng là dụng cụ của lượng từ bi hải hà. Mẹ Maria cám ơn những
người đã làm ơn cho Mẹ. Mẹ cám ơn những người đã từ chối giúp đỡ Mẹ. Mẹ
cũng cám ơn những người kiên nhẫn chịu đựng Mẹ. Mẹ Maria nhìn nhận Mẹ
mắc nợ tất cả mọi người, mặc dầu Mẹ ban cho họ muôn ân sủng, và Mẹ tự
đặt mình dưới chân mọi người. Mẹ tìm các phương cách khôn ngoan giữ
không để mất một giây phút hoặc cơ hội nào thực hành sự trọn lành tột
đỉnh và các thánh đức cao cả trước sự thán phục của các thiên thần và
làm hài lòng Đấng Tối Cao.
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, trong khi Mẹ phải lưu vong từ nước này tới nước khác và
trong mọi việc Mẹ làm, trái tim Mẹ không bao giờ bối rối, tinh thần Mẹ
không bao giờ sa sút, Mẹ luôn sẵn sàng chu toàn mọi thánh ý Thiên Chúa.
Chúa cho Mẹ biết các mục đích cao cả của Ngài, tuy nhiên việc này không
phải luôn được thực hiện ngay từ lúc khởi đầu vì Chúa muốn Mẹ chịu đựng
nhiều đau khổ lớn lao hơn nữa; và vì trong việc vâng lời Chúa, không lý
do nào cần thiết hơn là chính Chúa Đấng Tạo Thành an bài mọi sự. Các
linh hồn phải tập cho quen việc chỉ tìm kiếm nguyên do duy nhất này, chỉ
tìm làm vui lòng Chúa, mà không phân biệt cơ hội may mắn hoặc rủi ro,
cũng không để ý tới ý thích riêng của mình. Mẹ muốn con tiến tới trong
việc khôn ngoan này. Trong việc bắt chước Mẹ chu toàn mọi bổn phận đối
với Con cực thánh Mẹ, con hãy đón nhận sự sung túc hoặc bất hạnh trong
cuộc sống trần thế này cách bình tĩnh, với sự điềm đạm và bình an trong
trí khôn. Con đừng để người này làm cho con đau lòng, cũng đừng để người
khác làm cho con vui mừng cách vô ích; nhưng chỉ chăm chú làm những điều
Chúa muốn và vui lòng Chúa.
Đời sống nhân loại trộn lẫn muôn thứ khác nhau thuộc cả hai trường hợp;
họ ưa thứ này, nhưng ghét thứ kia; họ ghê tởm thứ này, lại ước ao thứ
khác. Trái tim nhân loại hữu hạn hẹp hòi hướng về các cực đoan cách thái
quá, tham lam vô bờ điều nó ưa thích, trái lại họ kêu ca khó chịu trước
những thứ trái tim không ưa. Những tâm trạng hay thay đổi, dao động bất
thường này tạo ra những nguy hiểm đối với tất cả hoặc nhiều nhân đức.
Tình yêu không chính đáng đối với một tạo vật mà không đạt tới lập tức
hướng linh hồn ước ao thứ khác, trông chờ niềm an ủi bù đắp nỗi thất
vọng nơi ước mơ trước. Nếu thành công, linh hồn bị dính líu và bối rối
vì khát vọng duy trì được thứ nó sở hữu, do đó những khát vọng mới chớm
này đẩy linh hồn vào những xáo trộn và đam mê còn lớn lao hơn nữa.
Con yêu dấu của Mẹ, con hãy đề phòng mối nguy hiểm này, hãy tấn công tận
gốc rễ của nó bằng việc giữ trái tim con độc lập, chỉ bám chặt vào Ơn
Chúa Quan Phòng, không khi nào để cho trái tim con hướng về thứ gì nó
ước muốn hoặc khát vọng, hoặc để nó ghê tởm điều làm đau đớn trái tim.
Con hãy để cho thánh ý Chúa là nguồn hoan lạc và vui sướng duy nhất của
con. Đừng để các ước vọng lôi kéo con, cũng đừng để cho những sợ hãi làm
con nản lòng. Đừng để cho những việc làm bề ngoài của con và sự chú ý
tới tạo vật cản trở con, hoặc làm con xao nhãng việc thi hành các nhân
đức. Con hãy luôn noi gương Mẹ, yêu mến và chuyên cần dõi theo gót Mẹ. |